CHỮ MỆNH!

Mỹ Hiệp


Núi Đeo ngọn tháp chờ ai đó!
Hóa kiếp thời gian trong ư thơ,
Những mănh linh hồn về đứng lặng,
Sầu dâng thiên cổ khóc ngọn cờ…!
       Ngọn gió thu nhè nhẹ lướt qua đung đưa cành mận đỏ trước nhà, đủ làm lá rơi đầy sân Những chiếc lá đỏ nằm trên thảm cỏ xanh tạo một bức tranh khá đặc sắc. Buổi sáng khí hậu hơi se lạnh, choàng thêm chiếc áo ấm mỏng, tôi đi bộ ngoài công viên, gặp vài người bạn láng giềng, nghe họ kể chuyện về chuyến du lịch Việt nam làm tôi nôn nao háo hức… Lấy vội vé máy bay để đi ngay, chậm trễ có thể làm tôi tan biến cảm giác thích thú. Đến Việt Nam với hành lư xách tay gọn nhẹ, tôi gặp anh Hai ra phi trường đón. Chị dâu tôi đang nằm bệnh viện một tuần rồi, đau ở bụng, chưa chẩn đoán ra bệnh ǵ.

       Xe đưa tôi về thăm em gái ở Biên Ḥa th́ gặp cháu dâu báo tin nó sắp phải mổ bướu ngực, nhưng t́nh trạng cơ thể quá ốm, bác sĩ thông báo cần mua máu để tiếp. Vài hôm sau tôi về Ninh Ḥa thăm mẹ già. Mẹ b́nh an, lại nghe thêm tin ông anh, con nuôi của ba má tôi, bị stroke nằm một chổ. Tôi vội đi thăm, nhà anh ở Dục Mỹ. Trên đường ngang qua núi Đeo, h́nh ảnh nầy gợi nhớ thời thơ ấu… Buồn dâng cao, nước mắt chực rơi, những giọt nước mắt thương cảm về những người bạn vắn số của tôi Thật không công bằng chút nào, thiên hạ đi chơi chỉ nghe kể chuyện vui, c̣n phần tôi chuyện buồn như chờ chực sẳn. H́nh như những chuyện bắt đầu là “ngày xa xưa ấy” lúc nào cũng ăn sâu vào tâm khảm. Năm mươi năm không dài, tuy nhiên cũng không phải là ngắn so với một đời người. Tôi nhắc đến anh như kể một mẫu chuyện cổ tích cho đàn con cháu. C̣n ai nhớ đến một thế hệ, có những chàng trai hy sinh tương lai đă nằm xuống để bảo vệ lư tưởng tự do

oOo

       Năm lên mười tuổi, tôi đậu vào trường Trung Học Trần B́nh Trọng, niềm vui c̣n nóng sốt là đă phải đón nhận tin buồn cha mẹ ḿnh làm ăn thất bại. Mặc dầu mẹ tôi không hề báo tin nhưng tin đồn đă đến tai họ hàng, mấy d́ mấy cậu từ Phú Ḥa gánh gạo xuống tiếp tế. Mẹ tôi bảo không c̣n tiền buôn bán chứ chưa đến nổi thiếu gạo ặn, các anh các chị đừng khổ nhọc mang gạo xuống nữa. Nhưng các d́ lại bảo, cô hai nên đem gạo bán để mua cá thịt cho tụi nhỏ ặn. Ba mẹ tôi thuê mặt tiền nhà cậu mợ Hai để mở tiệm ặn, tọa lạc ngay ngă ba Quốc lộ 01 và quốc lộ 21 (đường lên Bam Mê Thuột) thuộc quận lỵ Ninh Ḥa. Nghe mẹ nói với ba tôi, ḿnh không c̣n tiền cho con ăn uống đầy đủ th́ chọn việc mở tiệm ăn cho chúng khỏi thiếu ặn. Mẹ tôi lên Thuận Mỹ, Trường Lộc mượn được ba chị giúp viêc. Ông Chín người Tàu là thơ nấu. Vào nghề nầy, cho dù thấy thức ăn đầy, chị em tôi vẫn chẳng thiết tới, chỉ có thèm ngủ, bởi suốt ngày kẻ ra người vào ồn ào không học bài được, khi tiệm đóng cửa trên mười giờ đêm, tôi mới có thể làm bổn phận học tṛ.

       Mới bốn giờ sáng, cha mẹ tôi đă thức dậy bán cà phê cho những tài xế xe lambretta và những công nhân đi làm sớm. Các chị người làm lớn lên ở vùng quê, họ giỏi về ruộng vườn, ra phố làm việc chợ búa và chạy bàn th́ thật là chậm chạp. Tôi than phiền hỏi mẹ - Sao không kiếm người lanh lợi, mẹ trả lời, nhà nó đông anh em, má mướn cho gia đ́nh nó bớt miệng ăn, về nhà ḿnh sáng sáng nó được ăn phở, chứ ở quê buổi sáng mong cơm nguội cũng đă quư. Quả thật ba chị tới ở với gia đ́nh tôi thay da chóng lớn thấy rơ. Thuận nhỏ nhất, nhà nghèo chưa có một ngày đến trường, không biết đến một chữ A, tôi phải dạy chị, sau đó cũng biết đoc…Nhớ ngày đầu chị bước vào nhà, tôi hỏi chị tên ǵ? Tên Thai, chị trả lời. Tôi nghe tên nầy không êm tai nên dặn, má em có hỏi chị tên ǵ, nhớ trả lời tên Thuận nghe. Thuận, chữ nầy tốt lắm, là chị làm ăn được hanh thông, thuận buồm xuôi gió. Chị ấy nghe vừa ư. Nên từ đó tên cúng cơm cha mẹ đặt, không c̣n ai gọi đến nữa.

       Không phải chỉ dạy Thuận học mà tôi c̣n phải viết thư t́nh giùm. Hùng là người yêu của chị, Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân, anh về học khóa śnh lầy Núi Đeo. Những bức thư t́nh của Thuận gởi cho Hùng đều do tôi viết hồi âm sau khi đọc cho chị nghe! Thư trao qua lại bao ngày mà Hùng nào có hay những ḍng chữ tràn đây nhung nhớ của Thuận lại không phải do Thuận viết. Về sau Thuận và Hùng nên nghĩa vợ chồng. Một lần về quê vợ, anh chị đă ghé thăm tôi – Thuận đă kể cho anh nghe thư từ qua lại giữa anh và Thuận lâu nay đều do em làm bà mối. Cám ơn em đă giúp chúng tôi nên nghĩa vợ chồng! Anh dặn vợ, những giấy tờ cần thiết phải để có nơi, nếu ngộ lỡ anh có việc ǵ không hay th́ có thể mang đến đơn vi… Tôi không thông nổi lư lẽ nầy, việc làm của tôi thật sự tốt cho họ chứ! Có phải tôi đă lừa dối anh!... Năm năm sau, Thuận trở về Ninh Ḥa gặp tôi báo tin Hùng tử trân. Chị mới hai mươi hai tuổi đă thành góa bụa với ba đứa con thơ. Một lần nữa ḷng tôi thêm ray rức. Lúc đầu tôi nghĩ ḿnh làm việc tốt giúp bạn, hóa ra, nếu tôi không giúp Thuận viết thư th́ chị đâu phải lấy Hùng và nay đâu phải thành bà góa. Thượng đế ơi! Có phải số phận họ là như vây. Suốt tuần lễ, tôi vừa chợp mắt là h́nh ảnh Thuận với vành khăn tang hiện ra. Tôi vốn sợ màu áo tang từ bé, đi học về chẳng may gặp đám ma gữa đường, thế là tối hôm ấy cứ bị h́nh ảnh những chiếc áo trắng xuất hiện trong giấc mơ..Mỗi lần tâm thần bất ổn tôi t́m ông ngoại ở Đồng Giữa thôn Hai, để được nghe ông kể chuyện cổ tích. Tôi không hiểu ông tự biên tự diễn hay đọc được từ sách nào, nhiều chuyện ngộ nghĩnh làm tôi cười đau cả bụng, nước mắt chảy dài..

       Tôi đem chuyện sống chết hỏi ông th́ được nghe ông giải thích – Theo học giả Vương Sung người đất Thượng Ngưu ở quận Cối Kê, sinh năm Kiến Vơ thứ ba (năm 27 sau Tây Lịch), đời Vua Quang Vũ, Ngài theo tư tưởng duy vật – Đối với sự sinh hóa trong vũ trụ, Vương Sung cho rằng, “thiên địa hợp khí, vạn vật tự sinh, do phu phụ hợp khí, tử tự sinh hỷ”, Vạn vật bẩm thụ cái nguyên khí của trời đất mà sinh ra, cũng như con cá dưới nước, con côn trùng trên mặt đất đều tự nhiên cả, chứ không phải tại có ư chí của trời đất sinh người hay sinh vạn vât. Các vật sinh ra đều có cái h́nh tương đương để duy tŕ cái khí của minh đă chịu. Cái h́nh lúc mới thành đă định trước vận mệnh và tính chất đặc biêt. Khí và thể, cùng với các h́nh hài bao bọc lẫn nhau cho nên sự sống, chết đều có kỳ tiết cả. Cùng chịu cái nguyên khí, thế mà hoặc làm người hay làm cầm thú, cùng làm người th́ có người sang người hèn, người giàu người nghèo. Giàu đến vạn ức, nghèo không có cái ăn, sang được công hầu, nghèo làm nô bộc. Đó không phải là trời có riêng tây ǵ, chỉ v́ người ta chịu cái tính của trời hậu hay bạc. Sự không đồng đều là do cái mệnh đă định, người có mệnh xấu th́ gặp bước xấu, mệnh nghèo mà có gắng sức làm nên giàu, đến khi giàu lại chết. Mệnh hèn cố lấy tài năng làm nên sang, đến khi sang là phải chấm dứt. Vương Sung cho sự họa phúc và qui tiện của người là bởi cái mệnh khiến ra, cho nên mới có sự tao phùng hội ngộ, có cái mệnh sống chết thọ yểu, cũng có cái mệnh sang hèn giàu nghèo. Vậy không nên lấy sự hiển đạt mà cho là tài giỏi và lấy bần cùng mà cho là ngu dại…

       Thấy tôi cứ măi đăm chiêu tư lự không cười như những lần gặp trước, ngoại bèn kể cho tôi nghe một chuyện vui

       “Ở một làng kia có ngôi chùa. Trụ tŕ chùa nầy là một vị đạo đức trung niên xuất gia. V́ đi tu lớn tuổi không được học Phật Pháp trường lớp. Sự hiểu biết của Thầy có giới hạn. Gần chùa có một cư sĩ thường t́m tới gạn hỏi Phật pháp. Thầy không trả lời th́ không được, nhưng trả lời th́ không vừa ư ông ta. V́ vậy mỗi khi thấy cư sĩ đến th́ thầy lánh măt. Một hôm Thầy nói với anh Ba bán tàu hủ về ông cư sĩ thường đến nạn vấn làm thầy phiền phức. Anh Ba Tàu Hủ nói “Thầy để cho con, bửa nay có ông ta đến khổng” Vừa nói th́ thấy xa xa ông ta đă đến. Anh Ba Tàu Hủ liền mượn áo cà sa, y và mũ của thầy khoác vào, lên chánh điện ngồi thiền, xoay mặt qua một bên. Ông cư sĩ đến chánh điện niệm Phật, thấy có vị tăng đang ngồi thiền tướng mạo trang nghiêm, ông liền đănh lễ hỏi đạo. Ông cư sĩ đưa một ngón tay, Vị thiền sư đưa ra ba ngón tay Ông cư sĩ đưa ra ba ngón tay vị thiền sư đưa năm ngón tay. Ông cư sĩ cuối đầu bái phục ra về. Gặp thầy trụ tŕ ông nói – Hôm nay chùa ḿnh có cao tăng, con hỏi đạo Ngài trả lời rất xác thật. Thầy trụ tŕ hỏi, thiền sư trả lời thế nào. Ông cư sĩ nói, “ Con hỏi phải làm sao được nhất tâm? Thiền sư trả lời: Phải qui y tam bảo. Con hỏi: Làm ao phát huy tam bảo, thiền sư dạy phải giữ ngũ giới. Như thế Ngài trả lời hay quá. Chùa ḿnh từ nay có cao tăng, con không dám quấy rầy thầy nữa”. Nói xong cư sĩ chào thầy ra về!

       Anh Ba Tàu Hủ cởi y mũ trả cho thầy trụ tŕ và nói: “ Ông cư sĩ thua con rồi, từ nay ông không đến nữa đâu!”. Thầy trụ tŕ hỏi “anh trả lời sao mà ông cư sĩ phục anh?” Anh Ba Tàu Hủ nói: “ Có ǵ đâu, ông cư sĩ hỏi mua một miếng tàu hủ là bao nhiêu, con trả lời ba đồng. Ông hỏi nếu mua ba miếng là bao nhiêu, con nói nếu là Phật Tử th́ con bán rẻ năm đồng. Thế là ông bằng ḷng, bửa sau sẽ mua!” Thầy Trụ Tŕ nghe ông Tàu hủ nói th́ ôm bụng cười lăn".

      Ông ngoại tôi hỏi tôi: “Tṛ hiểu ư câu chuyện nầy chứ! Thôi về đi để mẹ lo, chẳng biết tṛ đi xuống ông có cho mẹ biết không” Ông ngoại tôi thường gọi tên các cháu là tṛ. Ông biết tôi trốn mẹ đi chơi, v́ lần nào mẹ sai tôi về ngoại, đều có gởi theo sửa và đường. Đi tay không là trốn mẹ đi chơi. Từ đó tôi dặn ḷng không chọn lính làm người yêu v́ sợ sẽ làm góa phụ trẻ. Rồi có một ngày, buổi sáng thứ bảy tôi thấy xuất hiện ở phố Ninh Ḥa những chàng thanh niên mặc quân phục Biệt Động Quân, đầu cạo láng bóng, tôi đoán có lẽ là những lính ba gai bị phạt kỷ luật, nhưng chừng một giờ sau phố dông nghẹt lính đầu trọc, nh́n họ tôi cũng hơi lo sợ. Không có tóc, không che được kẻ đầu méo người đầu dài. Mái tóc điểm trang cho khuôn mặt rất nhiều. Họ vào tiệm của mẹ tôi dông chật cứng không c̣n ghế ngồi th́ đứng. Họ ồn ào vui nhộn tôi cũng vui lây với không khí nhà binh nầy. Được biết đây là Tiểu Đoàn 39 BĐQ thất trận về lại Núi Đeo tu nghiệp bổ sung quân số. Tất cả tiểu đoàn từ quan đến lính đều cạo đầu xă xui. Thời gian học bổ túc, ngày thứ bảy và chúa nhật được nghĩ. Phố Ninh Ḥa v́ thế trở thành nhộn nhịp, hàng quán đầy nghẹt khách hàng là lính rằn ri mũ nâu!

       Mỗi tuần hai ngày gặp mặt, tôi quen tên một số người đặc biệt. Ngay hôm đầu vào tiệm, tôi không chú ư v́ khó phân biệt, họ cùng màu áo và cùng đầu trọc, bổng có một người tốt bụng đến gần tôi nói nhỏ: “Coi chừng có người chụp h́nh lén!”. Tôi nhớn nhác t́m, một lính trẻ mang máy ảnh đang ngồi trong góc phía phải, bàn số 4 đang canh máy hướng về phía tôi chụp h́nh. Người vào tiệm quá đông nên anh không thể nào chụp riêng rẽ h́nh của tôi đươc. Vă lại tôi cố t́nh tránh né, nên phần nhiều là h́nh chụp không được rỏ hay chung với nhiều người khác. Nhưng anh ta vẫn cố t́nh rửa ra và mang đến cho tôi xem… Tôi không hiểu sao lúc nào anh ta cũng giành được chỗ ngồi nhất định đó, mặc dầu anh không đến sớm để chọn bàn. Tôi đoán chừng, tất cả những anh lính vào tiệm đều cùng một đại đội, có lẽ họ rĩ tai trước nhường chỗ ngồi đó cho chàng thanh niên nầy để gây sự chú ư của tôi.

       Qua tháng thứ hai, B bạo dạn hỏi xin tôi được chụp một tấm h́nh, tôi mĩm cười lắc đầu, anh ta tiến đến gần tôi hát nhỏ “…Em nỡ lạnh lùng đến thế sao... Tim anh tan nát tự hôm nào, giờ đây đă nát càng thêm năo, muốn nói mà sao vẫn nghẹn ngào… Sao em không nói một lời ǵ, dù chỉ một lời không đáng chi, cũng đủ làm ḷng anh ấm lại, bao ngày xa cách lúc anh đi!...” Tôi có hai người em gái nhỏ, B lân la chơi với chúng, chụp nhiều kiểu h́nh để rồi tuần sau đem đến tặng. B ḥa ḿnh dễ tánh nên mọi người trong gia đ́nhh tôi có t́nh cảm đặc biêt. Lúc đó tôi vẫn c̣n quá nhỏ, chưa biết làm dáng; nên cũng nh́n B như những bạn trai cùng lớp ở Trần B́nh Trọng, chỉ cảm nhận vui vui khi có mặt anh, thế thôi! Ngày vui qua nhanh, tôi cũng phải lo thi học kỳ cuối năm. Tiểu đoàn anh quay về Đà Nẳng, nhận được thư anh viết từ chiến trường Điện Bàn. Trong thư cũng ngỏ ư xin tấm h́nh. Bác phó nḥm nầy quá tệ, bao tháng trời mà không chụp được để phải gởi thư xin h́nh! Thôi tạm cất thư vào ngăn kéo, sau kỳ thi sẽ trả lời… Thi xong, tôi lấy thư ra đọc và hồi âm, hẹn một dịp nào đó đi chơi xa có phong cảnh đẹp sẽ chụp h́nh…

       Đem thư ra bưu điện th́ tối hôm đó, tôi c̣n mơ màng chưa ngủ hẳn, thấy anh đứng cách tôi độ nửa mét, mặt đối mặt, nhưng mắt anh nhắm nghiền, tôi hỏi lớn: “B anh làm sao hả?, sao anh không mở mắt, anh nói đi!” Mắt anh vẫn nhắm. Tôi nh́n anh đăm đăm “Mở mắt ra đi, nói ǵ đi!” Tôi la lớn rồi tỉnh giấc, nh́n quanh từ bề yên lặng, mọi người đều say ngủ. Nước mắt tôi tự dưng trào. Tôi tự hỏi tại sao ḿnh khóc? Cũng không hiểu tại sao, chỉ thấy buồn kinh khủng, tôi cố nghĩ ḿnh vô lư lắm… Cười đi… Nhưng vô phương. Đến sáng hôm sau nước mắt tôi cũng không ngừng chảy. Đem chiêm bao kể cho ba tôi nghe, người bảo “ Mọi người sống chết đều có số mạng, hàng trăm người tham dự cùng một mặt trận, có kẻ chết người được hưởng vinh quang. Cầu mong cho nó b́nh an” Vài ngày hôm sau,thư tôi viết cho anh bị trả lại với một điện tín do bạn anh gởi báo B đă tử trận tại Điện Bàn ngày… tháng… năm… Thế có nghĩa là những ngày c̣n trên trần thế, B rất mong thư tôi, nhưng thư đến quá muộn anh chưa có cơ hội dọc. Anh đến gặp tôi là trách móc đó chăng?

       Đọc bức điện tín tôi không buồn nữa, nhưng đầu óc dường như tê dại. Rồi đây ai ai cũng phải về ngôi nhà chính của ḿnh kia mà, thiên hạ chẳng bảo là sinh kư tử qui đó sao. Nhưng nhà anh ở tận nơi đâu? Tôi hàng ngày vẫn nh́n chiếc ghế anh thường ngồi và tiếng hát của anh dường như vẫn c̣n văng vẳng đâu đây. “…Tiếng khóc không vơi được nổi sầu đâu em, nước mắt không đem lại chuỗi ngày ấm êm, đừng buồn nghe em, đừng sầu nghe em, t́nh yêu đẹp nhất khi xa nhau c̣n thương nhau…”

       Giờ đây dừng chân nh́n cảnh Núi Đeo, bao kỷ niệm xưa lại hiện về, ḷng tôi bùi ngùi nhớ đến Thuận không biết đang sống ở đâu, nhớ đến chồng Thuận, nhớ đến B và những anh em binh sĩ cùng các đơn vị đă từng về học khóa śnh lầy. Nhớ gói quà trái sim B đă mang cho tôi, anh đă tự tay hái ở cây số 16; ngày ấy anh c̣n trêu “Cô học tṛ biết bạn anh nói ǵ không? – Nói ǵ? – Nói anh trồng cây si ở Ninh Ḥa? – Vậy sao? – Em rất vui, v́ như thế anh mới đến Ninh Ḥa thường và em gái mới được ăn quà chứ! Mà chị nào vậy? Giới thiệu cho em biết đi chứ…!”

       Mệnh anh ngắn ngủi hay… Thôi th́ ḿnh cứ t́m một triết lư nào đó để tin tưởng và chấp nhận cho cuộc đời được b́nh thản!

2009