Cấp Chỉ Huy Hoa KỳVũ đ́nh Hiếu
![]() CHÂN DUNG TÁC GIẢ Trước 1975, anh Vũ đ́nh Hiếu đă phục vụ tại TĐ 95 BĐQ, sau đó phụ tá Ban 3 LĐ22 BĐQ. Khi định cư tại Mỹ, anh đă tốt nghiệp MS về Computer Science tại Texas A & M Commerce, và tiến sĩ về Management Information Systems từ Kennedy Western University. Anh đă từng làm Programmer Analyst cho thành phố Dallas, và System Engineer for Electronic Data Systems (EDS). Anh có những kiến thức sâu rộng về chiến tranh VN, đặc biệt về Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ, và BĐQ. Anh cũng là một cộng tác viên lâu dài cuả Tập San BĐQ thông qua các bài dịch, và khảo cứu. ***
Lời giới thiệu: Tài liệu này nói về quyết định quân sự của chính quyền Hoa Kỳ trong ṿng 800 ngày, từ ngày 8 tháng Mười Một, 1988, khi George Bush đắc cử Tổng Thống, đến ngày 16 tháng Giêng 1991, bắt đầu Trận Chiến Vùng Vịnh (Persian Gulf War lần thứ nhất). VÀO CHUYỆN Vị cựu Tổng Tham Mưu Trưởng, Đô Đốc William J. Crowe, Jr. vội vă qua khỏi những thủ tục an ninh của Ngũ Giác Đài (Bộ Quốc Pḥng và Bộ TTM Quân Lực Hoa Kỳ) vào một buổi chiều, hôm thứ Ba, 27 tháng Mười Một năm 1990. Ông ta đă trễ cho bữa ăn trưa lúc 1 giờ chiều do người thay thế ông ta mời riêng, Đại Tướng Colin L. Powell. Khi vào bên trong Ngũ Giác Đài, Đô Đốc Crowe, 65 tuổi cảm thấy bầu không khí vội vă quen thuộc, những vị Đại Tá đi lại ngoài hành lang với những bước chân vội vă, quan trọng. Rẽ qua bên phải, hành lang dẫn đến pḥng số 2E878, của vị Tổng Tham Mưu Trưởng. Ông ta đi ngang qua khu đón tiếp (reception), rồi bước vào căn pḥng mà ông ta đă làm việc trong bốn năm qua, cho đến khi Tướng Powell thay thế, 14 tháng trước. Với số tuổi 53, Powell là vị TTMT trẻ tuổi nhất và cũng là vị tướng da đen đầu tiên trong lịch sử được cử vào chức vụ quan trọng này. B́nh thường, ông ta là một người nhanh nhẹn, đầy sinh lực, nhưng hôm đó, ông ta có vẻ mệt mỏi. Khi cả hai người ngồi vào chiếc bàn cổ để ăn bữa trưa, Tướng Powell bắt đầu câu chuyện với giọng khôi hài, ước rằng ông ta từ chối nhiệm vụ (TTMT). Tại sao ông (Crowe) không lên tiếng cảnh cáo tôi trước đó? Một người hầu bàn trong “bếp” của TTMT đến chào và hỏi hai vị tướng Bốn tháng trước đó, Powell đă theo dơi cuộc chuyển quân quy mô, lớn nhất của quân lực Hoa Kỳ, kể từ sau trận chiến Việt Nam. Đă có khoảng 230000 ngàn quân nhân Hoa Kỳ cả đàn ông lẫn đàn bà được đưa qua vùng vịnh Ba Tư (Persian Gulf), một phần trong chiến dịch Lá Chắn Sa Mạc (Desert Shield), sau khi quân đội Iraq xua quân xâm chiếm Kuwait. Ba tuần trước đó, Tổng Thống Bush (cha) đă tuyên bố quyết định tăng thêm quân gấp đôi vào vùng vịnh Ba Tư để đánh đuổi quân đội Iraq ra khỏi Kuwait. Tướng Powell lên tiếng hỏi “Nghe nói, ông sẵn sàng ra làm chứng?”. Khi Powell gọi điện thoại mời Đô Đốc Crowe đến dự bữa ăn trưa, Crowe đă nhận lời ra đối chất về t́nh h́nh vùng vịnh Ba Tư, trước Ủy Ban Quốc Pḥng Thượng Viện Hoa Kỳ mà Thượng Nghị Sĩ Sam Nunn, đảng Dân Chủ tiểu bang Georgia là chủ tịch ủy ban. Mặc dầu trước đó, vị TNS ủng hộ quyết định của Tổng Thống Bush đưa quân đội vào vùng vịnh để bảo vệ Saudi Arabia khỏi bàn tay xâm lược của Iraq, Sam Nunn đă công khai chỉ trích quyết định tăng thêm quân để có khả năng tấn công. Ông ta yêu cầu, và muốn biết tại sao Tổng Thống Bush cho rằng việc giải phóng Kuwait là điều tối quan trọng cho quyền lợi của quốc gia Hoa Kỳ. Việc ǵ phải vội vă như thế? Tại sao không dùng giải pháp “cấm vận kinh tế”, cả thế giới sẽ không trao đổi, buôn bán với Iraq nữa? Đô Đốc Crowe đă từng đi nhiều nơi trong nước, thuyết tŕnh và ông ta đă nghe nhiều câu hỏi, nghi vấn về việc giải phóng Kuwait, có cần thiết xử dụng vơ lực không. Có nhiều điều đáng lo về hướng đi của quốc gia, thời gian, những mục tiêu và tầm mức quan trọng của cuộc chiến. Crowe trả lời “Không phải ai cũng thích những điều tôi sắp nói ra”. Ông ta nói thêm “Mọi người không kiên nhẫn”. Vài người có cảm tưởng, quân đội Hoa Kỳ huấn luyện binh sĩ để chiến đấu và căm thù, chứ không dậy họ đức tính kiên nhẫn và chờ đợi. Tại sao chúng ta không nghĩ đến một kế hoạch lâu dài. Một trận chiến trong vùng Trung Đông - giết hàng ngàn người Ả Rập cho bất cứ lư tưởng cao cả nào - sẽ cầm chân người Hoa Kỳ trong vùng một thời gian dài lâu. Chưa nói đến vấn đề tổn thất nhân mạng của người Hoa Kỳ. Đô Đốc Crowe nói, chiến tranh sẽ “nhầy nhụa – messy” và không chắc chắn được kết qủa. Tướng Powell ngồi lắng nghe, gật gù, không biểu lộ, đồng ư hay không, Crowe muốn đặt vài câu hỏi. Trong “chuyện này”, vị thế của Cheney ở chỗ nào? (Bộ Trưởng Quốc Pḥng, xếp trực tiếp của TTMT Colin Powell). - Ông ta (Cheney) chơi tôi (beats me). Tướng Powell trả lời.. - Ư ông muốn ám chỉ điều ǵ? Đô Đốc Crowe hỏi với giọng nhỏ nhẹ. - Ông ta cầm chắc quân bài trong tay, ông đă biết mà. Đúng như thế. Sáu tháng cuối cùng của Đô Đốc Crowe trong chức vụ TTMT, cũng là sáu tháng đầu tiên khi Dick Cheney được Tổng Thống Bush dành cho chiếc ghế Bộ Trưởng Quốc Pḥng, nên Crowe cũng đă biết rành cá tính của Dick Cheney. Tướng Powell nói, Cheney trở về sau buổi họp trong ṭa Nhà Trắng (White House), chẳng nói (tiết lộ) một lời ǵ. Là một thành viên trong nội các, Cheney dự những buổi họp quan trọng riêng với Tổng Thống Bush, không phải buổi họp của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, có sự tham dự của vị TTMT Colin L. Powell. Đô Đốc Crowe có thể tưởng tượng ra... vị TTMT Quân Lực Hoa Kỳ không được biết vị thế của Bộ Trưởng Quốc Pḥng trong những quyết định quan trọng về quân sự, ngoại giao của chính quyền Hoa Kỳ... Chuyện này đă xẩy ra từ nhiều thế hệ. - Thế c̣n, ông ở đâu trong vấn đề chuyển quân qua vùng vịnh? Crowe đặt câu hỏi. - Tôi nằm trong vấn đề... chiến lược. Powell trả lời rồi chỉ tay ra cửa sổ. Đô Đốc Crowe hiểu ngay cử chỉ của Powell. Lệnh lạc cũng như những quyết định về chính trị, điều khiển cuộc đời vị TTMT đến từ đó... “bên kia sông” có nghĩa là ṭa Nhà Trắng. Ông ta không muốn hỏi thêm, liệu Tướng Powell có “tŕnh bầy” rơ ràng ư kiến của ḿnh cho Tổng Thống Bush không? Trong khi đó, nội các của Tổng Thống Bush vẫn tuyên bố cho công chúng biết, guồng máy chính quyền làm việc rất nhịp nhàng, ăn khớp. Nếu tướng Colin Powell thành thật, tŕnh bầy những điều không đồng ư với Tổng Thống Bush... Luật pháp Hoa Kỳ xác định nhiệm vụ của vị TTMT là “cố vấn quân sự” cho Tổng Thống, Bộ Trưởng Quốc Pḥng, và Hội Đồng An Ninh Quốc Gia. “Theo kinh nghiệm, vị TTMT sẽ đưa ra những điều cố vấn về quân sự, ư kiến liên quan đến vấn đề liên hệ”. - Tôi đang nghĩ... Đô Đốc Crowe nói tiếp... Có hai điều để trở nên một vị Tổng Thống giỏi, tôi phải nói cho ông biết v́ biết đâu, ngày nào đó, ông sẽ làm Tổng Thống. - Không, không! Tướng Powell trả lời một cách dứt khoát. - Đúng, biết đâu... Tôi muốn nói với ông... Điều thứ nhất, muốn trở nên một Tổng Thống giỏi, ông phải có một trận chiến tranh. Tất cả những vị Tổng Thống nổi tiếng đều có những trận chiến. Tướng Powell bật cười... công nhận, điều đó đúng. Điều thứ hai, ông phải t́m ra nơi nào ḿnh bị tấn công. Colin Powell gật đầu tán đồng... Trước khi ra về, Đô Đốc Crowe cám ơn Tướng Powell lời mời ăn bữa trưa. Theo ư kiến của Đô Đốc Crowe, khi biết rằng sự suy luận của ḿnh đúng, vị TTMT phải đứng lên nói lên tiếng nói của ḿnh (của quân đội), ngay cả đối với một Tổng Thống. Trong năm 1986, sau cuộc hội nghị Reagan – Gorbachev ở Reykjavik, Iceland, Tổng Thống Reagan đưa ra ư kiến phá hủy tất cả các loại hỏa tiễn liên lục điạ (ballistic missiles). Lúc đó TTMT Quân Lực Hoa Kỳ là Đô Đốc Crowe, ông ta bị “áp lực” rất mạnh, kư tên ủng hộ dự thảo của Tổng Thống Reagan. Tuy nhiên, Đô Đốc Crowe đă đứng lên phát biểu ư kiến chống lại, trong buổi họp của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, cho rằng “điều đó sẽ nguy hại đến nền an ninh của Hoa Kỳ”. Cuối cùng “ṿng thân cận – inner circle” của Tổng Thống Reagan lắng nghe những điều Đô Đốc Crowe tŕnh bầy với sự thán phục. . . . Trong khi những hoạt động quân sự của người Hoa Kỳ trong vùng vịnh Ba Tư gia tăng, Tướng Colin Powell nhận lệnh và thi hành lệnh. Vị Tổng Thống Hoa Kỳ đă quyết định, gia tăng sức mạnh để tấn công. Vị TTMT bận rộn xắp xếp các đơn vị đưa qua vùng vịnh để trận tấn công được dễ dàng và hiệu qủa. Tháng trước, Tướng Powell đă viết vài điều quan trọng, trong quyển sổ tay của ông ta. Chuyện Liên Hiệp Quốc cấm vận, và chuyện quân đội Đồng Minh sẽ siết cổ Saddam (Hussein). Ông ta đă tŕnh bầy những điều viết trong sổ tay với Bộ Trưởng Quốc Pḥng Dick Cheney, Cố Vấn Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Brent Scowcroft, và Bộ Trưởng Ngoại Giao James A. Baker III (Đệ Tam). Một buổi chiều hôm thứ Sáu, đầu tháng Mười, cuối cùng Cheney gọi điện thoại cho Powell “Ông cùng đi với tôi đến ṭa Nhà Trắng, để xem “Ông Già” (TT Bush) nghĩ thế nào về ư kiến của ông”. Bộ Trưởng Quốc Pḥng Dick Cheney có một buổi họp riêng với Tổng Thống Bush trong ngày hôm đó, trong ṭa Nhà Trắng. Buổi họp bao gồm những nhân vật quan trọng trong nội các, mà Powell gọi là “Những Ông Lớn – The Big Guys”. Thường không có ông ta. Cheney cùng với Powell đi đến ṭa Nhà Trắng gặp Tổng Thống Bush và Cố Vấn Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Scowcroft. Buổi chiều nắng chan ḥa nhưng không khí buổi họp có phần không đúng. Đó là pḥng làm việc của Tổng Thống h́nh bầu dục (Oval Office), không phải là pḥng để hội họp, bàn luận. Powell cứ tưởng rằng sẽ gặp trong pḥng “T́nh Thế” (Situation Room), nơi mà Tổng Thống Bush sẽ chăm chú nghe hơn. Trong pḥng làm việc của Tổng Thống, cả ba người kia đều... rất thoải mái, nói chuyện... bâng quơ. Rồi đến phiên Powell nói lên những “vấn đề”. Trong kế hoạch “tống cổ” Saddam ra khỏi Kuwait, Powell tŕnh với vị Tổng Thống, có hai phương thức hành động. Một, đưa thêm quân vào để có thể tấn công. Hai, “chế ngự” (Saddam) sẽ mất thời gian hơn, nhưng cả hai dự án đều có thể đem lại thành công. Hai người kia, Cheney, Scowcroft chỉ đặt câu hỏi sơ sơ. Tổng Thống Bush và cả Cheney lẫn Scowcroft đều không thích giải pháp “chế ngự”. Powell đă chuẩn bị những câu trả lời trước, nhưng chẳng ai buồn đặt câu hỏi, ngay cả ư kiến của ông ta. Cuối cùng Powell đặt câu hỏi. - Thưa Tổng Thống, ông chọn giải pháp nào? Mỗi tuần lễ trôi qua, có thêm quân đổ vào (Saudi Arabia, khu vực vùng vịnh Ba Tư). - Tôi nghĩ chưa cần thiết, v́ t́nh h́nh chính trị. Tướng Colin Powell cho rằng, Tổng Thống vẫn chưa hoàn toàn... dứt khoát. Ông ta đă làm đầy đủ bổn phận, tŕnh bầy khía cạnh quân sự. Đó là những điều, ông ta có thể làm. CHƯƠNG 1 Ngày thứ Tư, 9 tháng Mười Một, 1988. Powell lúc đó đeo ba ngôi sao, cố vấn an ninh cho Tổng Thống Reagan, bước đi trong một hành lang trải thảm, nơi Cánh Tây (West Wing) ṭa Nhà Trắng. Ông ta đang đi về văn pḥng rộng lớn của ḿnh ở phần cuối, pḥng làm việc lớn thứ hai trong ṭa Nhà Trắng, chỉ dành cho những người có “tầm vóc” cỡ Tiến Sĩ Henry Kissinger. Lúc đó khoảng 4 giờ chiều, Phó Tổng Thống George Bush đang ở ngoài hành lang trước cửa pḥng làm việc của ông ta. Ngày hôm trước, Bush đă đắc cử Tổng Thống. Một nghi lễ chào đón ông ta trở lại ṭa Nhà Trắng trong cương vị Tổng Thống vừa chấm dứt, do đó ông ta vẫn c̣n đứng ngoài hành lang, bắt tay, nhận những lời chúc mừng. Bỗng ông ta trông thấy Powell. - Vào đây. Tôi muốn nói chuyện. Tướng Colin Powell nói rằng chắc Tổng Thống (Bush) bận rộn, nhưng Bush nói tiếp. - Nói cho tôi nghe chuyện ǵ đang xẩy ra. Nói xong, Bush kéo Powell vào trong pḥng vị Phó Tổng Thống. Trong chức vụ Cố Vấn An Ninh Quốc Gia cho Tổng Thống Reagan, Powell là trung tâm tin tức về t́nh h́nh thế giới. Những tin tức mới nhất thường chỉ có những nhân vật cao cấp trong ṭa Nhà Trắng mới biết. Tướng Powell mỉm cười tự tin, ngỏ lời chúc mừng ông Bush vừa đắc cử Tổng Thống. Nội các của tân Tổng Thống bắt đầu thành h́nh. Buổi sáng hôm đó, ở Houston, Bush đă thông báo người được chọn đầu tiên trong nội các của ông ta, người điều hành cuộc vận động tranh cử Tổng Thống cho ông, một “bạn ǵa” cùng tiểu bang Texas, Jim Baker vào chức vụ Bộ Trưởng Ngoại Giao. Baker có thể được xem là cánh tay mặt của Tổng Thống Bush. Bush hỏi thăm Powell. Có chương tŕnh ǵ không? Công việc nào thích hợp với ông (Powell)? Và Powell trả lời. - Thưa Phó Tổng Thống (chức vụ đương nhiệm của Bush), ông có rất nhiều điều trong tay cũng như trong đầu ông... nhiều hơn tôi. Bush đưa ra ba đề nghị với Tướng Colin Powell. Tiếp tục ở lại chức vụ Cố Vấn An Ninh Quốc Gia, khoảng sáu tháng, để rồi sẽ t́m được một công việc thích hợp hơn? Hoặc thích một “chỗ ngồi” chính thức trong nội các? Bush c̣n đề nghị cử Powell vào chức vụ Giám Đốc cơ quan Trung Ương T́nh Báo (CIA), chức vụ mà Bush đă làm khi vào khoảng tuổi của Colin Powell. Hay là (Powell) muốn làm nhân vật thứ hai trong Bộ Ngoại Giao (sau Baker). Powell trả lời, đă chọn cuộc đời binh nghiệp và muốn ở lại. Thực sự, Powell có thể chọn công việc ngoài chính quyền với tiền lương cao hơn. Lời mời của tân Tổng Thống Bush có nhiều hứa hẹn, với chức vụ Cố Vấn An Ninh Quốc Gia đă đem đến cho Powell nhiều chọn lựa. Có nhiều quyết định phải cân nhắc, tính toán, Powell cám ơn, chúc mừng vị tân Tổng Thống và hứa sẽ trả lời. Một điều rất rơ cho Powell. Lời mời ở lại chức vụ Cố Vấn An Ninh Quốc Gia tạm thời trong ṿng sáu tháng chỉ là điều tế nhị, lịch sự... Tôi không muốn ông làm Cố Vấn Chính thức. Powell lấy giấy viết ra ngồi đắn đo, tính toán. Lời mời vào chức vụ Giám Đốc cơ quan CIA và nhân vật thứ hai trong Bộ Ngoại Giao phải cân nhắc kỹ lưỡng. Cả hai chức vụ tiến cử đều coi như “xuống chức”. Chức vụ Cố Vấn An Ninh Quốc Gia mạnh hơn Giám Đốc cơ quan CIA. Một vấn đề nữa, Colin Powell cảm thấy không được “thoải mái” về người đàn ông mà sẽ lên làm Tổng Thống Hoa Kỳ. Powell xin ư kiến của người bạn thân Richard L. Armitage, một người hoạt bát, Cố Vấn cho Bộ Trưởng Quốc Pḥng về vấn đề quốc tế. Armitage có vóc dáng vạm vỡ, tốt nghiệp trường Vơ Bị Hải Quân năm 1967, được biết có lối làm việc hăng hái. Từ 1983 đến 1986, Armitage và Powell, đă làm cố vấn quân sự cho Bộ Trưởng Quốc Pḥng Caspar Weinberger. Armitage biết Powell có tài ăn nói, che dấu tham vọng trong nội tậm. Ông ta đồng ư, lời mời ở lại nhiệm vụ Cố Vấn An Ninh Quốc Gia thêm sáu tháng là một cử chỉ lịch sự. Nhưng khuyên không nên đi Bộ Ngoại Giao làm nhân vật thứ hai. C̣n cơ quan CIA không phù hợp với mẫu người của Powell. Armitage kết luận, cứ chờ đợi cho t́nh h́nh chính trị sáng sủa thêm, rồi đâu sẽ vào đó. Powell cũng đă lo chuyện trở lại với quân đội. Trước ngày bầu cử Tổng Thống, ông ta đi thăm một người bạn, Đại Tướng Carl Vuono, Tham Mưu Trưởng Lục Quân. Vuono nắm trọn quyền thăng thưởng, bổ nhiệm các chức vụ trong Lục Quân, tốt nghiệp trường Vơ Bị West Point năm 1957, vào quân đội trước Powell một năm. Là một người mập mạp, vui vẻ dễ tính, với cặp mắt nâu của miền biển Điạ Trung Hải. Họ biết nhau khi cùng làm việc trong Ngũ Giác Đài và Powell coi Vuono như một trong những người đàn anh của ḿnh. Mặc dầu muốn Powell trở về với quân đội nhưng Vuono vẫn khuyến khích Powell t́m những công việc nào mà ḿnh và bà vợ Alma thích. Trường hợp Powell muốn trở lại, Vuono đă dành sẵn một chỗ cho Powell. Gắn thêm ngôi sao thứ tư (Đại Tướng, Quân Lực Hoa Kỳ có nhiều Đại Tướng, lên cấp bậc v́ chức vụ), Tư Lệnh Lực Lượng. Đó là đơn vị tổng trừ bị chiến lược của quốc gia, có đến 1 triệu quân, hầu hết thuộc đơn vị Vệ Binh Quốc Gia và trừ bị tại gia. Mặc dầu, chức vụ này không được “nổi”, nhưng sẽ làm Powell trở nên một trong mười vị Tư Lệnh (Commanders-in-chief, CINCs) đọc là “sinks” trong quân lực Hoa Kỳ, những đơn vị “Tác Chiến” nằm rải rác trên thế giới. Quan trọng hơn nữa, những vị này có tương lai lên thay thế Vuono trong chức vụ Tham Mưu Trưởng Lục Quân. Qúa vừa ḷng, Powell trả lời ông bạn. - Carl, nếu tôi quyết định trở lại, tôi sẽ làm bất cứ nhiệm vụ nào ông trao phó. Powell vẫn tự cho ḿnh là một quân nhân. Bắt đầu từ năm 1958, ông ta là một sĩ quan Bộ Binh đă phục vụ 14 năm trong nhiều đơn vị mà không đeo chiếc nhẫn tốt nghiệp của trường Vơ Bị West Point (Sĩ Quan Trừ Bị - Đó cũng là một điều... khác thường). Là một sĩ quan trẻ, Powell không “nhiệt tâm” phục vụ quân đội. Ông ta chỉ ráng kéo dài thời gian phục vụ cho đủ 20 năm để được hưởng 50% lương bổng lúc về hưu. Cơ hội làm việc trong chính quyền đến với Powell năm 1972. Năm đó, Trung Tá Colin Powell được chọn vào làm việc qua chương tŕnh Bằng Hữu của Ṭa Nhà Trắng (White House Fellows program). Chương tŕnh này cho các thương gia, luật sư, sĩ quan quân đội và những chuyên viên cơ hội làm việc với nghành hành pháp chính quyền liên bang trong một năm. Đến năm 1977, ông ta được vào làm việc trong Ngũ Giác Đài với nhiệm vụ Tùy Viên Quân Sự cho vị phụ tá Bộ Trưởng Quốc Pḥng. Bốn năm làm việc trong ṭa Nhà Trắng, cộng với ba năm làm tùy viên quân sự cho Powell cơ hội “gần gũi” với các vị chỉ huy cao cấp trong quân đội. Ông ta để ư, nhận biết rằng, một tầng lớp sĩ quan mới, cao cấp khác “hữu ích” hơn cho vị Bộ Trưởng Quốc Pḥng và Tổng Thống. Trong khi đó, vị Tổng Tham Mưu Trưởng, chức vụ cao nhất trong quân đội bị che khuất với thế giới bên ngoài, không có tầm mắt nh́n thấy khía cạnh chính trị trong các quyết định quốc pḥng. Powell quyết định trở về quân đội. Đó cũng là “nhà” và ngôi sao thứ tư (Đại Tướng) nằm chắc trong tầm tay. Ông ta biết rằng, cuộc đời sẽ thay đổi ở Atlanta, tiểu bang Georgia, bộ tư lệnh Lực Lượng. Đă từng làm cố vấn anh ninh, Powell có linh cảm về những rắc rối, khó khăn. Khó khăn từng lời nói, đề nghị, chọn lựa và hành động (nhiều tướng lănh Hoa Kỳ bị mất chức v́ những lời phát ngôn... bừa băi). Powell đi gặp Tổng Thống Bush, cám ơn cho những đặc ân. Colin Powell đă biết điều luật, vị Tổng Thống chọn những người làm việc trong “nhóm” của ông ta. Powell cũng đến chào Tổng Thống Reagan. - Như vậy là lên chức, đúng không? - Thưa đúng. - Thế th́ tốt. Trung Tướng Không Quân giải ngũ Brent Scowcroft nhận được cú điện thoại hôm 23 tháng Mười Một 1988, một ngày trước lễ Tạ Ơn từ một người bạn thân R. James Woolsey Jr., một luật sư đă từng làm Thứ Trưởng Bộ Hải Quân. Woolsey đă đọc một tin tức trong tờ báo The New York Times đề nghị Tổng Thống Bush nên chọn Scowcroft làm Bộ Trưởng Quốc Pḥng. Một tiếng đồng hồ sau, Scowcroft nghe Tổng Thống Bush tuyên bố trên hệ thống truyền thanh chọn Scowcroft là Cố Vấn An Ninh Quốc Gia thay thế Powell. Scowcroft không nằm trong ṿng “thân cận” của Tổng Thống Reagan, sự việc Scowcroft ở lại ṭa Nhà Trắng để làm cố vấn cho Tổng Thống là một dấu hiệu cho thấy Bush đă có một hướng đi khác trong chính sách Quốc Pḥng và Ngoại Giao. CHƯƠNG 2 Vào buổi sáng ngày 7 tháng Mười Hai 1988, trong trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New York, Mikhail Gorbachev tuyên bố Nga Sô sẽ đơn phương cắt giảm 500 ngàn quân và 10 ngàn chiến xa. Lời tuyên bố của lănh tụ Nga Sô cho thấy sự chuyển hướng trong đường lối “làm việc” của người Nga. Các lănh tụ Nga Sô trước đó chưa bao giờ cắt giảm ngân sách quốc pḥng nếu không có sự cắt giảm tương xứng từ phiá Hoa Kỳ. Nhưng trong t́nh thế lúc đó, nước Nga phải đối đầu với những áp lực về kinh tế nội bộ, Gorbachev t́m cách chấn chỉnh nên sẵn sàng chứng tỏ cho Hoa Kỳ và thế giới biết ông ta là một nhà ngoại giao, t́m kiếm ḥa b́nh. Ban tham mưu của lănh tụ Nga Sô, Gorbachev t́m cách móc nối để có một buổi họp với Tổng Thống Reagan. Đó cũng là nhiệm vụ cuối cùng của Tướng Colin Powell trong chức vụ Cố Vấn An Ninh Quốc Gia cho Tổng Thống Reagan. Phiá Nga Sô hứa hẹn, họ sẽ “không chơi bài” hoặc muốn rắc rối. Hai bên đồng ư sẽ gặp nhau trong một bữa ăn trưa ở Governor’s Island trong vịnh New York. Khi Reagan đón tiếp Gorbachev, Bush bước ra khỏi ngôi biệt thự cổ, có 27 pḥng, kiến trúc theo kiểu xưa Georgian, nơi hai vị lănh tụ của thế giới sẽ dùng bữa ăn trưa. Khi đi ngang qua hai vị lănh tụ, Gorbachev trông thấy vị tổng thống kế tiếp của Hoa Kỳ, vội chào hỏi, đưa cả hai tay ra bắt rất niềm nở. Các cố vấn thân cận của Bush đă dặn ḍ ông ta cứ thản nhiên. Những cuộc đàm phán cao cấp với Nga Sô phải chuẩn bị trước và cẩn thận. Trước khi buổi họp, ăn trưa bắt đầu, hai vị nguyên thủ quốc gia được mời vào một pḥng nhỏ để cho các phóng viên báo chí chụp ảnh. Tướng Colin Powell đáng đứng cùng với những viên chức cao cấp Nga Sô, rồi Alexander “Sasha” Bessmertnykh, bí thư thứ nhất trong Bộ Ngoại Giao nước Nga đến chúc mừng. - Colin, ông có khoẻ không? Chúc mừng ông lên cấp bậc. Ngôi sao thứ tư vừa đến với Powell trong buổi sáng hôm đó... - Sasha, ông rất lịch sự. Tôi ngạc nhiên sao ông biết nhanh thế. Chắc Yuri (Đại sứ Nga tại Hoa Kỳ) mới thông báo. - Không! Bessmertnykh cười rồi trả lời. Tôi xem đài CNN. . . . Trong buổi họp, phiá Hoa Kỳ có sáu nhân vật: Reagan, Bush, Bộ Trưởng Ngoại Giao George Shultz, Powell, Ken Duberstein, và Bộ Trưởng Quốc Pḥng Frank Carlucci. Phiá bên kia là sáu đại diện Nga Sô. Ngồi đối diện Tổng Thống Reagan, Gorbachev mở đầu buổi họp bằng diễn văn dài khoảng mười phút, nói về những khó khăn ông ta gặp phải khi sửa đổi đường lối kinh tế, chính trị của nước Nga – Perestroika và Glasnost. Vị nguyên thủ nước Nga kết luận, bị chống đối trên tất cả mọi khía cạnh. Tổng Thống Reagan đáp lời, chính quyền ở khắp nơi trên thế giới cũng đều như nhau và rất thông cảm với Gorbachev. Reagan cho biết, bản thống kê mới nhất của ṭa Nhà Trắng cho biết 85% dân chúng Hoa Kỳ tán đồng sự liên hệ mới, cởi mở giữa Hoa Kỳ và Nga Sô. Gorbachev nói “Tôi rất hài ḷng biết được chuyện đó. Sự quan hệ không thể kéo dài trong bầu không khí nghi ngờ. Điều quan trọng là sự liên tục”. Gorbachev quay sang vị Tổng Thống tương lai của Hoa Kỳ... nhưng Bush không biểu lộ cảm xúc. Gorbachev khôn ngoan, nói tiếp về chuyện “giống ngựa”, đề tài này luôn luôn lôi cuốn Reagan (Tài tử đóng phim - Cowboy Reagan) và hai người có một buổi nói chuyện sống động. Cuối cùng Bush chen vào “Những ǵ, ông có thể bảo đảm với tôi để tôi nói lại với những nhà kinh doanh Hoa Kỳ muốn đầu tư vào nước Nga là kế hoạch cải tổ Perstroika, Glasnost (kinh tế, chính trị) sẽ thành công?” Cặp mắt của Gorbachev trở nên sắt thép nghe những lời người thông ngôn nói lại, rồi trả lời “Làm sao biết trước được ngay cả Chúa Jesus cũng không thể trả lời câu hỏi đó”. Duberstein rất ngạc nhiên v́ câu trả lời, Gorbachev không để ư đó là câu hỏi của vị Tổng Thống tương lai. Tướng Colin Powell nghĩ rằng câu hỏi của Bush có vẻ như ṭ ṃ và thơ ngây. Gần như ông ta muốn Gorbachev bảo đảm nước Nga an toàn cho giới tư bản, thương gia Hoa Kỳ đầu tư. Sau đó Bush im lặng cho đến hết bữa ăn trưa lâu dài. Nhiệm kỳ của Tổng Thống Reagan xắp chấm dứt, tuy nhiên sự quan hệ Bush-Gorbachev chẳng đi đến đâu. Cuối cùng, Gorbachev quay sang Bush, nói “Tôi muốn nhân cơ hội này nói với ông. Ban tham mưu của ông có lẽ cho rằng, những điều tôi đang làm là tṛ bịp. Điều đó không đúng, tôi đang làm chính trị thực sự. Tôi đă làm cuộc cách mạng năm 1986, bây giờ là năm 1988, người dân Nga không thích. Đừng hiểu lầm tôi, ông Phó Tổng Thống, tôi phải làm chính trị thực sự. Tướng Powell ngồi ghi chép. Ông ta thường dặn ḍ nhân viên dưới quyền đừng phóng đại những lời nói của người Nga phát ra từ Moscow. Nhưng lần này lănh tụ Nga Sô đă nói lên sự thực. Gorbachev và guồng máy hành chánh nước Nga không c̣n giải pháp nào khác. Họ đă làm “cách mạng” và không có lối thoát. Powell cảm thấy ḷng chân thành nơi Gorbachev, sau bao nhiêu năm, cuộc “chiến tranh lạnh” đă có đường lối chính trị thực sự. Sau hai tiếng rưỡi đồng hồ, Reagan nâng ly rượu vang Chardonnay, nói với Gorbachev “Tôi muốn nâng ly rượu mừng những điều chúng ta đă đạt được. Những điều mà sau ngày 20 tháng Giêng (Bush nhậm chức), Phó Tổng Thống cùng với ông sẽ hoàn tất. Vị lănh tụ Nga Sô, Gorbachev đứng dậy, nâng ly, quay sang Bush và nói “Đây là thành qủa đầu tiên của chúng ta”. CHƯƠNG 3 Trong cuộc họp báo buổi sáng ngày 16 tháng Mười Hai, Tổng Thống dân cử Bush tuyên bố mời John Tower, cựu nghị sĩ tiểu bang Texas vào chức vụ Bộ Trưởng Quốc Pḥng. Craig Fuller, “tham mưu trưởng” trong bộ tham mưu Phó Tổng Thống (Bush) phải chứng kiến một cách bực bội. Cùng với Tổng Giám Đốc Ngân Khố Nicholas Brady, một người bạn lâu năm, Robert Teeter vận động bầu cử cho Bush đă thất bại trong việc “phá hoại” uy tín của Tower. Fuller và Teeter cho rằng Tower là người nghiện rượu. Brady không thích Tower. Mặc dầu cả ba người gặp nhau bí mật trong những bữa ăn sáng trong ṭa nhà ty Ngân Khố để bàn “chiến thuật” đưa những “ứng cử viên” giới thiệu với Tổng Thống dân cử Bush, nhưng vẫn không thành công. Trong một lần bàn luận với Fuller về những “ứng cử viên”, Bush nói Tower đă “chia xẻ những chuyện tốt (thành công), xấu (thất bại) nhiều lần”. Ông ta (Tower) đă giúp Bush hai lần sau kỳ tranh cử thất bại ghế Thượng Nghị Sĩ năm 1964 và 1970. Năm 1968, ông ta đă xuống Houston bênh vực cho Dân Biểu Bush. Tower cũng là một nhân vật có tiếng tăm trong đảng Cộng Ḥa ủng hộ Bush ra tranh cử Tổng Thống năm 1988. Ông ta đă đi nhiều nơi, nói chuyện, vận động cho Bush không biết mệt. Fuller biết sự trung thành là điều tối quan trọng đối với Bush, khó ḷng làm ông ta thay đổi chánh kiến. Fuller không ngạc nhiên khi cho biết quyết định đề cử Tower vào chức vụ Bộ Trưởng Quốc Pḥng. Phương thức làm việc của Busk đă làm Fuller mất mặt nhiều lần. Trong cương vị Phó Tổng Thống, Bush lúc nào cũng bí mật, ông ta không hề chia xẻ với một người tất cả mọi chuyện kể cả “tham mưu trưởng” ban tham mưu của ông ta. Như là một điệp viên, Bush khóa chặt tin tức, sau đó phân ra làm nhiều phần nhỏ để riêng ḿnh ông ta biết rơ mọi chuyện. Đến đầu tháng Hai 1989, vài tuần lễ trước khi nội các Tổng Thống Bush bắt đầu làm việc, chuyện đề cử Tower gặp trở ngại lớn. Những chuyện đồn đăi về Tower nghiện rượu, và nếp sống cá nhân nổi lên ở khắp nơi. Một cựu phụ tá của Tower lúc đó là Dân Biểu Larry Combest lên nói chuyện trong Ủy Ban Quốc Pḥng của Thượng Nghị Sĩ Sam Nunn, về tật uống rượu xay sưa của Tower trong những năm ông ta ngồi ở Thượng Viện. Ngày thứ Ba 7 tháng Hai, C. Boyden Gray, cố vấn luật phát của Bush trong ṭa Nhà Trắng chạy vào pḥng tùy viên của Tổng Thống Bush, Chase Untermyer báo cáo. Gray đang theo dơi những trở ngại trong việc lập nội các cho Bush, vừa biết thêm chuyện mới liên quan đến sự tham nhũng của Tower trong những giao kèo quốc pḥng. Gray nói với Untermeyer “Ông là người đầu tiên được biết... Lo t́m người cho chức vụ Bộ Trưởng Quốc Pḥng là vừa. Ông ta (Bush) không thể để vết thương chẩy máu thêm hai tuần nữa”. Đúng 11 giờ đêm hôm đó, Tower gọi điện thoại cho Gray, lúc đó đang ở nhà. - Tôi nghĩ, Tổng Thống không nên kéo dài thêm hai tuần nữa. Tôi nghĩ ḿnh nên rút lui. - Đừng làm ǵ cả, cho đến khi có người nhắc nhở. Tower đồng ư, chờ cho đến khi Tổng Thống Bush chấp nhận sự rút lui. Sáng sớm hôm sau, Gray báo cáo những chuyện về Tower cho Bush. Bush chỉ nói... Trông ông có vẻ sảng khoái và rất diện bề ngoài. Gray trả lời, mất ngủ đêm qua rồi khuyến cáo Tổng Thống Bush nên “rút dây điện” việc tiến cử Tower vào chức vụ Bộ Trưởng Quốc Pḥng. Bush không trả lời. Khoảng một tiếng đồng hồ sau, Gray trông thấy Tower trong ṭa Nhà Trắng, vừa mới ăn sáng cùng với Baker (Bộ Ngoại Giao), và Scowcroft (Cố Vấn An Ninh Quốc Gia). Cả hai vị này đều cố vấn Tower cứ cố bám theo. Gray lên tiếng hỏi Tower. - Ông c̣n giữ ư định đó không? - Không. Tôi “ngủ” trên chuyện đó và Tổng Thống vẫn muốn tôi tiếp tục. Cũng buổi sáng hôm đó, Thượng Nghị Sĩ Sam Nunn chủ tịch ủy ban Quốc Pḥng Thượng Viện ra trả lời báo chí về việc tiến cử của Tổng Thống Bush. Là người có uy tín trong những vấn đề Quốc Pḥng, trả lời chuyện nghiện rượu “Đó là chức vụ rất quan trọng. Vị Bộ Trưởng Quốc Pḥng theo tôi hiểu phải là người lúc nào cũng sáng suốt, tỉnh táo. Đó không phải là công việc tám tiếng đồng hồ mỗi ngày. Những người lính trẻ đang cầm súng bảo vệ quốc gia cần có một hệ thống lănh đạo chỉ huy sáng suốt bất cứ lúc nào”. Tối thứ Năm, ngày 23 tháng Hai, ủy ban của Nunn bỏ phiếu 11/9, khuyến cáo Thượng Viện Hoa Kỳ bác bỏ sự tiến cử Tower vào chức vụ Bộ Trưởng Quốc Pḥng. Phiá đối diện bên kia thành phố, trong căn nhà của Phó Tổng Thống Dan Quayle, cựu Thượng Nghị Sĩ tiểu bang Indiana, có hai vị khách đến thăm. Hai người bạn thuộc khối bảo thủ trong đảng Cộng Ḥa, Ken Adelman và Dick Cheney. Adelman, 42 tuổi, gốc nhà giáo văn chương Shakespear, đă từng nắm Ủy Ban Tài Giảm Binh Bị dưới thời Tổng Thống Reagan, đang viết b́nh luận cho báo chí. Mới đây, ông ta chỉ trích Tower đă không giữ kín nếp sống cá nhân và cho rằng “Đời sống cá nhân được xử dụng để phán đoán sự phục vụ quần chúng”. Dick Cheney đă từng làm “Tham Mưu Trưởng” ṭa Nhà Trắng dưới thời Tổng Thống Ford, đang giữ chức vụ Dân Biểu duy nhất của tiểu bang Wyoming. Ăn nói nhỏ nhẹ nhưng rất thành khẩn, Dick Cheney đă thăng tiến lên ngôi vị nhân vật thứ hai của đảng trong ṿng 10 năm. Phó Tổng Thống Dan Quayle đổ lỗi cho nhóm bảo thủ “Ḿnh phải làm sao để họ chấp nhận Tower”. Adelman trả lời “Đừng bắt tôi làm việc đó... Không phải công việc của tôi”. Dick Cheney nói “Tower rơi xuống hố. Ông phải t́m người làm việc với Quốc Hội”. Dan Quayle qua qua đổ lỗi cho Nunn, nhưng Cheney thích lối làm việc của ông ta. Hôm thứ Năm 9 tháng Ba, Thượng Viện chống lại việc tiến cử Tower với tỷ lệ 53/47. Tổng Thống Bush gọi điện thoại nói chuyện với Tower... Chúng ta mắc nợ dân chúng Hoa Kỳ. Quốc Gia là một khối và phải tiếp tục tiến lên. CHƯƠNG 4 Buổi chiều hôm Thượng Viện Hoa Kỳ bỏ phiếu chống sự bổ nhiệm Tower vào chức vụ Bộ Trưởng Quốc Pḥng, Dick Cheney nhận được cú điện thoại từ “Tham Mưu Trưởng” ṭa Nhà Trắng John Sununu, 50 tuổi, cựu Thống Đốc tiểu bang New Hampshire, vừa được Tổng Thống Bush chọn thay thế Craig Fuller. Cú điện thoại mời Cheney đến ṭa Nhà Trắng lúc 4 giờ chiều. Sununu hỏi ư kiến nên làm điều ǵ khi “con bài” Tower đă bị đốt cháy. Dick Cheney trả lời có thể đến lúc 5 giờ chiều. Với kính nghiệm 14 năm làm việc trong ṭa Nhà Trắng, Cheney nghĩ rằng, họ sẽ hỏi ư kiến để chọn người thay cho Tower vào chức Bộ Trưởng Quốc Pḥng. Vừa được bầu lên làm “nhân vật thứ hai” trong Hạ Viện, Cheney làm việc trong bóng tối của vị Chủ Tịch Hạ Viện Bob Michel thuộc tiểu bang Illinois, người đỡ đầu Cheney trên chính trường. Mặc dầu mới 48 tuổi, với cặp kính cận, hói đầu, làm cho Cheney có vẻ ǵa dặn. . . . Đúng 5 giờ chiều đến văn pḥng “Tham Mưu Trưởng” cũ của ông ta trong một góc ṭa Nhà Trắng, lúc đó là của Sununu. Scowcroft cũng đang có mặt trong pḥng. Ba người nói chuyện về sự thất bại trong việc tiến cử Tower và việc phải làm kế tiếp... Sununu hỏi Cheney. - Nếu Tổng Thống mời ông giữ ghế Bộ Trưởng Quốc Pḥng, ông nghĩ sao? Cheney trả lời sẽ nhận lời. Tiếp theo Scowcroft hỏi thăm về sức khỏe của ông ta. Mặc dầu vẫn c̣n trong lứa tuổi 40, Cheney đă lên cơn đau tim ba lần. Trong tháng Tám vừa qua, Cheney mới qua một cuộc giải phẫu để thông ống dẫn tim bị nghẹt. Cheney trả lời chuyện này, đúng ra chưa cần thiết, nhưng ông ta muốn đủ sức khỏe để đeo “ba lô” leo núi, chơi trượt tuyết. Bác sĩ của Dick Cheney đă cho biết sức khỏe tốt, độ béo (cholesterol) trong máu giảm và loại thuốc ông ta uống hàng ngày không gây ảnh hưởng nào khác. Cả ba đều đồng ư, để Cheney về nhà ngủ một giấc an lành và bàn việc này (Bộ Trưởng Quốc Pḥng) với vợ con. Scowcroft đă từng làm Cố Vấn An Ninh Quốc Gia cho Tổng Thống Ford, lúc đó Dick Cheney làm “Tham Mưu Trưởng” ṭa Nhà Trắng. Hai người đă quen biết nhau và cùng làm việc với nhau, do đó Scowcroft thúc đẩy mạnh việc tiến cử Cheney vào chức vụ Bộ Trưởng Quốc Pḥng. Khi đó, họ sẽ biết thêm “thâm cung” của Ngũ Giác Đài. Bộ Trưởng Ngoại Giao mới được bổ nhiệm Jim Baker đă ủng hộ Cheney. Họ đă vận động tranh cử cho Tổng Thống Ford năm 1976. Họ vẫn c̣n “mới” trên chính trường, tuy nhiên sự thất cử của Ford (Jimmy Carter đảng Dân Chủ thắng cử năm 1976) không làm sứt mẻ t́nh bạn, sợi giây liên hệ của họ. Sau buổi họp với Cheney và Baker, Sununu lặng lẽ ra lệnh cho cố vấn pháp luật ṭa Nhà Trắng Gray yêu cầu cơ quan FBI điều tra thêm một ứng cử viên cho chức vụ Bộ Trưởng Quốc Pḥng, John F. Lehman, Bộ Trưởng bộ Lục Quân dưới thời Reagan (bạn của Powell). Gray đă hoài nghi về nhân vật 46 tuổi, nói nhiều này. Lehman đă làm việc, rồi nghỉ, rồi quay trở lại với chính quyền trong sự nghiệp của ông ta, đó cũng là một “vấn đề”. Tệ hơn nữa, một trong những phụ tá của Lehman trong Bộ Hải Quân là nhân vật chính đang bị Bộ Tư Pháp điều tra về vụ giả mạo giấy tờ, tham nhũng trong Ngũ Giác Đài. Tuy vậy, Gray vẫn phải yêu cầu cơ quan FBI điều tra Lehman. . . . Trở về văn pḥng của ông ta, pḥng 104 trong cao ốc Cannon House, Cheney vào pḥng viên thư kư liên lạc báo chí, Pete Williams, 37 tuổi, cựu phóng viên đài truyền h́nh Wyoming cao ráo, giao thiệp rộng nói chuyện. Cheney cho Williams biết đến ṭa Nhà Trắng bàn chuyện về việc t́m người thay thế ứng cử viên Tower. Cô thứ kư riêng của Cheney tḥ đầu vào hỏi “Có điều ǵ chúng tôi cần để ư không?”. Cheney trả lời “Không”. Cheney cùng bà vợ Lynne, Tiến Sĩ Văn Chương, chủ tịch cơ quan National Endowment for the Humanities (cơ quan cung cấp ngân khoản trong ngành giáo dục, nghiên cứu về vấn đề nhân văn) đi ăn cùng với mấy người bạn từ Wyoming trong tiệm ăn Pháp La Colline cách thủ đô Washington D.C. bốn con đường. Trong bữa ăn, Cheney cũng chưa muốn nói về buổi họp với Sununu, Scowcroft trong ṭa Nhà Trắng. Khi hai vợ chồng về đến căn nhà của họ ở McLean Virginia, cô con gái 19 tuổi Mary đang ở nhà nghỉ muà Xuân (Spring break) nói rằng, có Jim Baker, tân Bộ Trưởng Ngoại Giao gọi điện thoại. Lập tức Cheney vào pḥng riêng gọi điện thoại cho Baker và hai người nói chuyện rất lâu. Đại ư Baker hoàn toàn 100% ủng hộ việc tiến cử Cheney vào chiếc ghế Bộ Quốc Pḥng và thúc dục Cheney nên nhận lời. Sau khi gác điện thoại, Chenney bàn chuyện với bà vợ Lynne (bà ta cũng nghe được phần nào lời đối thoại... nhờ đi qua lại trước cửa pḥng?) Cheney thích làm Chủ Tịch Hạ Viện. Sau những năm làm công việc “tham mưu”, công việc của ông ta lệ thuộc vào sự thành công trên đường chính trị của người khác, hiện giờ ông ta... làm chính trị cho riêng ḿnh. Cheney cũng thích những Dân Biểu Hạ Viện, bầu không khí tranh luận sôi nổi, lịch sử cũng như truyền thống của nó. Năm 1983, ông ta cùng viết với bà vợ Lynne quyển sách dầy 226 trang, giai đoạn Chủ Tịch Hạ Viện từ thời Henry Clay đến Sam Rayburn. Tựa đề quyển sách là “Những V́ Vua của Ngọn Đồi – King of the Hill” (Capital Hill). Cheney tính toán trong đầu những ưu điểm của chức vụ Bộ Trưởng Quốc Pḥng. Trước đó, ông ta đă quyết định sẽ không quay trở lại với ngành Hành Pháp, ngoại trừ một trong ba chỗ trống. Chiếc ghế Bộ Trưởng Quốc Pḥng là một. Sáng hôm sau lúc Dick Cheney đang họp với ban tham mưu văn pḥng dân biểu tiểu bang Wyoming, Sununu gọi điện thoại và nhân viên của Cheney phải ra khỏi pḥng để ông ta được tự do nói chuyện. Cheney cho Sununu “Tham Mưu Trưởng” ṭa Nhà Trắng biết ḿnh muốn tiến thêm bước nữa (ghế Bộ Trưởng Quốc Pḥng). Sununu mời đến ṭa Nhà Trắng vào buổi trưa. . . . Trong khi đó Gray đă báo cáo cho Sununu biết ứng cử viên John Lehman có “vấn đề”. Mặc dầu vẫn chưa có bằng chứng dính líu trực tiếp đến Lehman nhưng ủy ban điều tra “Cơn gió thoảng – Ill Wind” sẽ “đầu độc” việc tiến cử ông ta. Sununu ra lệnh cho Gray âm thầm nhờ cơ quan FBI điều tra luôn Dick Cheney. Cheney được đưa lên một pḥng Tổng Thống đă chọn sẵn trên lầu hai (nơi cư ngụ). Có một bàn rộng lớn nằm về một bên. Trên một bức tường, treo bức tranh vẽ Tổng Thống Lincoln họp với hai tướng lănh Grant và Sherman lúc gần cuối trận nội chiến (1861-1865). Bức tranh có tên là “Những người tạo Ḥa B́nh – The Peace makers”. Hai người nói chuyện về vấn đề Quốc Pḥng, những chuyện cần phải cải tổ mà Bush nghĩ là cần thiết. Nửa tiếng đồng hồ sau, có thêm Sununu vào nói chuyện. Thực ra Sununu nói thay cho Tổng Thống đề pḥng trường hợp bị từ chối. - Nếu Tổng Thống mời ông ra nắm Bộ Quốc Pḥng, ông có nhận không? - Thưa ông, tôi chấp nhận chứ! Sau đó cả ba người nói chuyện tiếp... Chuyện đề cử vẫn chưa chính thức. Khi Cheney trở về văn pḥng, nhân viên FBI đă có mặt, đang “hỏi thăm” Kathie Embody, thư kư riêng của Cheney đă 15 năm. Họ xin tên những người “liên hệ” để liên lạc trong việc điều tra của cơ quan FBI. Cheney về đến văn pḥng chừng vài phút, Tổng Thống Bush gọi điện thoại. - Hăy bắt tay vào việc. -Đồng ư! (Okay) Thưa Tổng Thống. Tổng Thống Bush nói dặn ḍ thêm, ông ta muốn công bố việc tiến cử ngay tức khắc. Đúng 4 giờ chiều cùng ngày, Bush và Cheney xuất hiện trước phóng viên truyền thanh, truyền h́nh, báo chí. Cheney có cảm tưởng Bush rất thích thú khi tuyên bố với các phóng viên. . . . Pete Williams ngồi nghe thuyết tŕnh về mưa acid, một vấn đề quan trọng trong tiểu bang nặng về nông nghiệp Wyoming. Hôm đó là một buổi chiều thứ Sáu đẹp và ông ta định ra về sớm. Khi quay trở về pḥng làm việc, Williams ngạc nhiên v́ nhiều ghi chú điện thoại từ khắp nơi gọi đến, gần đầy cả trang giấy. Ngạc nhiên, ông ta băn khoăn có chuyện ǵ đây? Williams xem đài CNN trên TV, trông thấy Bush và Cheney, vị Bộ Trưởng Quốc Pḥng được tiến cử. Khoảng 5 giờ 30, Cheney trở về văn pḥng. Chưa ai nói được câu chúc mừng v́ theo sau ông ta là mấy nhân viên cơ quan điều tra liên bang FBI. Cheney mời họ vào văn pḥng nói chuyện và đóng cửa lại. Cuối cùng, Williams ngồi nói chuyện riêng với Cheney. Ông ta dặn Williams đừng nói lại cho người khác. Williams cũng đă biết rơ cách làm việc của ông xếp. Cheney bắt đầu nói “Khi vị Tổng Thống nh́n ông...”. Williams nghĩ thầm “Thôi đi đừng nói ṿng vo... với tôi”. Sau đó Cheney nói về quyền lực của vị Tổng Thống, vinh dự được phục vụ cho một Tổng Thống... William nghĩ rằng, quần chúng sẽ nh́n Dick Cheney qua hai giai đoạn: Nh́n ông ta, nghe ông ta nói, họ có cảm tưởng Cheney là một người tốt, trầm tĩnh, không nổi giận bất tử. Tiếp theo nh́n vào số phiếu ông ta bầu sẽ biết ông ta là một nhà bảo thủ. Nói chung, Williams nghĩ rằng “xếp” ḿnh là người cân nhắc kỹ lưỡng cho mỗi câu hỏi. Những nhân viên làm việc với Cheney nghĩ rằng: ông ta sẽ trao phó cho nhân viên làm những công việc ǵ? Vấn đề thăng tiến của ông ta có ảnh hưởng đến nghề nghiệp của nhân viên không? Ông ta đă có ư định ǵ về tương lai của nhân viên chưa? Có hai nhân viên quan trọng trong ban tham mưu của Cheney, cũng như Williams, họ muốn được nghe lời giải thích. Một người là Alan Kranowitz, bạn cùng trường đại học Yale, cả hai tốt nghiệp năm 1963, lúc đó Cheney bỏ học v́ hạng thấp. Người thứ hai là David Gribbin. Gribbin, Cheney và hai bà vợ của họ đều theo học trường trung học Natrona County High School ở Casper, Wyoming. Gribbin đă bỏ tất cả để theo bạn, nên muốn được nghe lời giải thích. Dick Cheney trả lời “Tổng Thống mời. Làm sao có thể từ chối được? Tôi đă suy nghĩ trước khi quyết định. Không thể rút lời được, phải tiến tới”. . . . Ngay cả những cộng sự viên thân cận, Cheney như một bộ máy “mật mă”. Nếu ai hỏi điều ǵ rơ ràng, ông ta sẽ trả lời, nhưng ông ta không phải là người đổ gánh nặng lên vai người khác. Một chuyện, Cheney không thích nói đến là thời gian theo học trong trường đại học nổi tiếng Yale. Kranowitz nhớ lại trong năm đầu hoặc năm thứ hai, Cheney thôi học sáu tháng quay trở về Wyoming làm thợ điện. Ông ta quay trở lại New Haven, nhưng đến cuối năm thứ hai th́ bỏ luôn. Cheney có nói sơ qua thời gian đi học ở Yale của ông ta nhưng không kể chi tiết. Sau đó Cheney lấy bằng cử nhân năm 1965 trường đại học tiểu bang Wyoming và năm sau lấy bằng Master về Khoa Học Chính Trị (Political Science). Ông ta lập gia đ́nh với Lynne năm 1964, cả hai theo học bằng Tiến Sĩ (Ph. D.) trường đại học tiểu bang Wisconsin năm 1968, khi Cheney được ngân khoản (Fellowship) làm việc ở thủ đô Washington D.C., Capitol Hill. Trong thời gian làm việc, ông ta được Donald Rumsfeld (Bộ Trưởng Quốc Pḥng thời Tổng Thống Bush con) để ư. Rumsfeld lúc đó đang làm giám đốc Văn Pḥng Cơ Hội Kinh Tế (Office of Economic Opportunity (OEO)) dưới thời Tổng Thống Nixon. Khi Tổng Thống Ford đưa Rumsfeld lên làm “Tham Mưu Trưởng” năm 1974, ông ta kéo theo Cheney làm phụ tá, và sự nghiệp chính trị của Cheney... cất cánh từ đó. . . . Là người bạn thân tín của Cheney, Kranowitz biết rơ cá tính bảo thủ của “xếp” ḿnh qua những chuyện xẩy ra ở nam Mỹ châu, vụ Nicaragua Contra, Cuba. Cheney tin rằng, chế độ Sandinista phải “đem đi” khỏi bán cầu. Ông ta nghiên cứu vấn đề tầu ngầm của Nga Sô rất kỹ khi là một hội viên trong Ủy Ban An Ninh Hạ Viện. Chuyện đời tư trong quá khư của Cheney cũng đơn giản, không có chuyện úp-mở. Ông ta sống trong một căn nhà từ nhiều năm qua. Nhưng sau một buổi họp lớn với nhân viên, Cheney nói cho Kranowitz biết, trong thời thanh niên, lứa tuổi đôi mươi, ông ta đă bị cảnh sát bắt hai lần. Một lần say rượu lái xe, một lần đi câu cá lúc đă hết mùa câu... Nhưng đă quá 25 năm. CHƯƠNG 5 Gia nhập nội các của Tổng Thống Bush muộn màng, Cheney biết ḿnh đă trễ công việc hàng tháng, nên phải làm việc nhanh để bắt kịp. Ngày hôm sau, Chủ Nhật 12 tháng Ba, Cheney lái xe đến nhà Frank Carlucci ở McLean. Chính Carlucci, phụ tá của Rumsfeld trong văn pḥng OEO đă cho Cheney vào làm việc năm 1969. Nếu Cheney được Thượng Viện thông qua, sẽ thay thế Carlucci, Bộ Trưởng Quốc Pḥng của Reagan, nay đă nhận được thông báo phải rời khỏi văn pḥng trước ngày 20 tháng Giêng theo lệnh của tân Tổng Thống Bush... điều này làm Carlucci bực ḿnh không ít. Carlucci khuyên Cheney nên “gần gủi” với Bill Crowe (Đô Đốc Crowe Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Hoa Kỳ), người sẽ giúp ông ta đi “đúng” đường. Ngày hôm sau nữa, Cheney đến Ngũ Giác Đài gặp Crowe. Vừa ngồi xuống ghế, Cheney vào đề ngay “Theo như tôi được biết, ông sẽ ngồi lại?”. Nhiệm kỳ hai năm, lần thứ hai của Đô Đốc Crowe sẽ chấm dứt vào cuối tháng Chín và Tổng Thống Bush đă yêu cầu ông ta ở lại thêm một nhiệm kỳ nữa (hai năm). - Tôi vẫn chưa quyết định. Có chuyện riêng tư. Đô Đốc Crowe trả lời Cheney. Câu trả lời không dứt khoát, nhưng Cheney vẫn tin là ông ta (Crowe) muốn “ra” khỏi. Gần hai tháng sau vẫn chưa chính thức có vị Bộ Trưởng Quốc Pḥng mới trong nội các chính quyền Bush. Đô Đốc Crowe cho biết, ông ta chờ đợi Cheney đến nhận chức. Bộ Quốc Pḥng đang cần người lănh đạo trong các vấn đề chính trị. Ông ta khuyên Cheney cứ dọn vào pḥng làm việc của Bộ Trưởng trên tầng thứ ba Ngũ Giác Đài. Chuyện thông qua, có vẻ chắc chắn. Phó Đô Đốc William A. Owens, tùy viên quân sự cho Bộ Trưởng Quốc Pḥng, phải được giữ lại để tiếp tục làm việc. Crowe nói thêm, Owens gốc tầu ngầm nguyên tử, là người làm việc tốt nhất, nhiều khả năng nhất mà ông ta được biết. Ông ta biết nhiệm vụ của ông ta nằm ở phiá sau, cũng không phải vị phụ tá Bộ Trưởng. Khả năng của quân đội Hoa Kỳ lúc nào cũng sẵn sàng, trang bị tốt, tinh thần chiến đấu cao. Đô Đốc Crowe cho biết. Cheney chưa cảm thấy áp lực nào nơi cuối chân trời. C̣n những vấn đề khác về quân sự như: các hành quân bí mật, các kế hoạch chiến tranh v.v... Ông ta muốn được nghe thuyết tŕnh càng sớm càng tốt. Tuy nhiên lúc đó Cheney bận tập trung vào chuyện được Thượng Viện thông qua vào chức vụ trước. Buổi chiều ngày hôm sau, khoảng 2 giờ, Cheney đi giầy cao bồi, bộ quần áo vest làm việc (thường mầu sậm) đi trên tấm thảm mầu xanh nhạt đến chỗ ngồi của ông ta trong pḥng họp Thương Viện, ra đối chất trước Ủy Ban Quốc Pḥng của Sam Nunn. Cheney lên tiếng. - Như quư vị đă biết, tôi không đến đây v́ theo đuổi chức vụ Bộ Trưởng Quốc Pḥng. Ai cũng biết Tower đă cố gắng lấy chiếc ghế đó. Tôi có mặt ở đây v́ Tổng Thống mời tôi ra gánh vác một công việc khó khăn. Thượng Nghị Sĩ John Warner tiểu bang Virginia, một người có “hạng” trong ủy ban thuộc đảng Cộng Ḥa đặt câu hỏi với Cheney về chuyện hoăn dịch trong cuộc chiến tranh Việt Nam. - Thưa Thượng Nghị Sĩ. Tôi chưa từng phục vụ trong quân đội, mặc quân phục. Tiếp theo Cheney giải thích, trong thời gian theo đuổi bậc đại học, ông ta được giấy hoăn dịch loại 2-S cho sinh viên. Sau đó có đứa con gái đầu ḷng năm 1966, được thêm giấy hoăn dịch loại 3-A dành cho cha mẹ. Cheney kết luận. - Tôi hoàn toàn tuân theo luật Động Viên. Tôi sẵn sàng và hănh diện phục vụ nếu có lệnh gọi nhập ngũ. Cuộc điều trần kéo dài ba tiếng đồng hồ. Các câu hỏi liên quan đến vấn đề Quốc Pḥng, Cheney thường dùng kinh nghiệm thời gian làm việc trong vấn đề t́nh báo và quốc pḥng. Ông ta cũng công nhận, sẽ cần phải xúc tiến trên nhiều lănh vực khác. Ngày hôm sau, Nunn và Warner xem xét lại bản báo cáo của cơ quan Công An Điều Tra Liên Bang FBI về Cheney và sau đó tŕnh lại cho ủy ban. Tất cả mọi người đều đồng ư. Lúc 10 giờ 50 phút sáng ngày 17 tháng Ba, ngày lễ St. Patrick, Nunn ra trước Thượng Viện tuyên bố. Ủy ban đă thông qua, chấp thuận Cheney với số phiếu tuyệt đối 20/0. Và kết qủa toàn Thượng Viện bỏ phiếu chấp thuận 92/0. Trong ṿng vài phút sau, Cheney nhận được cú điện thoại. Người gọi xưng là Phó Đô Đốc Owens (tùy viên quân sự cho Bộ Trưởng). Cheney nói (ra lệnh), muốn ông ta cùng với Davis O. Cooke, giám đốc pḥng nhân viên Ngũ Giác Đài đi với Cheney đế Hạ Viện ngay tức khắc, để Cheney làm tuyên thệ nhậm chức. Cooke 68 tuổi, được xem như thị trưởng Ngũ Giác Đài với 23 ngàn quân nhân, dân chính làm việc. Ông ta đă phục vụ dưới quyền bẩy vị Bộ Trưởng Quốc Pḥng tiền nhiệm. Việc đầu tiên, Cheney phải từ chức Dân Biểu Hạ Viện, sau đó với gia đ́nh, các phụ tá xung quanh, ông ta tuyên thệ nhận chức Bộ Trưởng Quốc Pḥng. Cheney đă chọn người tùy viên báo chí Pete Williams làm phát ngôn viên bộ Quốc Pḥng, David S. Addington cựu luật sư cho cơ quan Trung Ương T́nh Báo CIA làm phụ tá đặc biệt trong Ngũ Giác Đài. Chiều hôm thứ Ba, 21 tháng Ba, hàng ngàn quân nhân, dân chính (làm việc trong Ngũ Giác Đài) vào trong sân rộng ở chính giữa “Pháo Đài h́nh Năm Góc” để dự kiến Cheney tuyên thệ nhậm chức Bộ Trưởng Quốc Pḥng thứ 17. Tổng Thống Bush đọc diễn văn trước, sau đó luật sư liên bang Laurence H. Silberman nhận lời tuyên thệ của Cheney. Sau đó là diễn văn nhậm chức của vị tân Bộ Trưởng Quốc Pḥng. “Đây là một kinh nghiệm khiêm tốn trong chức vụ này. Xin gửi đến tất cả mọi nam, nữ quân nhân Hoa Kỳ: Tôi lấy làm vinh dự phục vụ cùng các bạn, trong việc bảo vệ tự do...” và lời kết thúc bản diễn văn: “Các bạn, những quân nhân của chúng ta, là vấn đề quan trọng hàng đầu của tôi”. Viên phụ tá Williams nói với Cheney, bài diễn văn nhấn mạnh về dân chúng rất có hiệu qủa. Chiều hôm đó, Cheney đến ṭa Nhà Trắng gặp “Tham Mưu Trưởng” Sununu, tùy viên Tổng Thống Chase Untermeyer. Sununu nói với Cheney rằng, ṭa Nhà Trắng muốn 30 phần trăm trong số 42 chức vụ quan trọng của Ngũ Giác Đài dành cho đàn bà và nhóm thiểu số. (Tiếp theo)
|