Trường CũTrần ThanhKim bước vào nghề dạy học khoảng đầu thập niên 60, khi miền Nam lâm vào cuộc chiến ngày càng khốc liệt, sau một giai đoạn thanh b́nh ngắn ngủi 1954 - 1960. Nhiệm sở đầu tiên cách xa cố đô Huế đến mấy trăm cây số về phía Nam. Trường học tọa lạc tại con đường chính của Thị xă. Bên ngoài Thị xă là con sông lớn, vào mùa mưa nước đổ như thác, ngập phố phường, bồi phù sa cho đầy ru ộng. Đường bộ hay đường hỏa xa từ quê nhà Kim - cố đô Huế - đến vùng này đều không sử dụng được v́ thiếu an ninh. Phương tiện giao thông duy nhất vào thời đó là đường hàng không. C̣n toàn Thị xă nơi có nhiệm sở của Kim, thường xuyên bao trùm không khí chiến tranh, ban ngày các tin tức chiến sự từ tiền đồn, quận lỵ đưa về, lớp người lánh nạn bom đạn từ các miền quê đổ đến. Ban đêm tiếng đạn pháo vang dội dưới ánh sáng hỏa châu ḥa lẫn tiếng loa tuyên truyền của Mặt trận giải phóng miền Nam vọng về. Các đồng nghiệp sống lâu ở địa phương trước 1960 kể lại và nuối tiếc những ngày tháng thanh b́nh, đi du ngoạn hoặc cắm trại cùng học sinh ở miền cận sơn hay ven biển. Nghe các bạn nhắc lại những kỷ niệm, Kim hồi tưởng quăng đời thư sinh dưới mái trường cổ kính nơi đầy mộng ước được dệt thành. Khi hoa phượng ngày ngày khoe sắc thắm và tiếng ve sầu tấu khúc trường ca, th́ mùa hè đến. Đối với học sinh trung học mùa hè là mùa tạm chia tay hoặc báo hiệu với những mái đầu xanh của thời áo trắng, bắt đầu khúc rẽ của cuộc đời, nhất là các cậu sắp trải qua kỳ thi. Dù buồn man mác và nhẹ nhàng như muốn níu kéo thời gian giờ khắc ngừng trôi, hay phải quên đi v́ chạy đua với thời gian để đến đích, là tốt nghiệp một mảnh bằng đánh dấu thành quả sau bốn năm hay bảy năm đèn sách, hầu khỏi phụ công ơn dưỡng dục của đấng sinh thành, tuổi trẻ vẫn không quên trao và ghi lại cảm t́nh trong sáng trên những trang lưu bút màu xanh hy vọng, với những ḍng chữ nắn nót tuôn tràn, chuyển tải cả tấm ḷng và trái tim trên trang giấy. Nhiệm sở cuối cùng của Kim ở một thị trấn gần cực nam miền trung phía bắc miền Thùy Dương cát trắng. Thị trấn ấy là một b́nh nguyên hẹp, chạy sát gần bờ biển nằm trên ngă ba đi cao nguyên và được bao bọc bởi non cao hùng vĩ soi bóng màu xanh thẩm bên bờ sông Dinh trôi êm ả, cuốn theo những chiếc hoa lục b́nh dưới ánh b́nh minh và hoàng hôn. Trường học của Kim gần 50 lớp, đủ các cấp, ở đầu thị trấn, khuất sau hàng dương và phượng vĩ khoe sắc tươi thắm mỗi độ hè sang. Khi hồi trống tan trường điểm, những tà áo trắng xen lẫn tiếng nô đùa từ các cổng trường, rồi ḍng nam nữ sinh hối hả đi về mọi hướng, người ta mới biết nơi đây có một ngôi trường. Xuân qua rồi hè đến, Kim cũng như nhiều đồng nghiệp sống với nhiều kỷ niệm trong đại gia đ́nh tuổi mộng: tiếng giảng bài dơng dạc, tiếng reo ḥ cổ vơ cuộc tranh tài thể thao, tiếng ca trầm bổng, những điệu múa bên ánh lửa bập bùng của đêm lửa trại. Nhất là từ 1972 đến 1975 sinh hoạt văn nghệ thể thao sôi nổi và đạt được thành tích nhất nh́ từ cấp tỉnh, cấp Quân khu và cả toàn quốc nữa. Những kỷ niệm đẹp một thời đó, không phai mờ trong kư ức thầy tṛ, sau hơn ba thập kỷ v́ hoàn cảnh lịch sử sống cách xa hai bên bờ đại dương. Họ rất tự hào và trân quí những năm tháng dưới mái trường, nơi mảnh đất hiền ḥa và thanh b́nh, giữa lúc đất nước đang hồi binh lửa từ miền hỏa tuyến, cao nguyên, đầm lầy miền Nam, mặc cho những biến động của thời cuộc, nơi đây: " Bầu trời vẫn xanh và cao vời vợi Hoa phượng vẫn rực rỡ mùa hè" Với Kim, tuy chuyện ngày tháng năm cũ đă xa dần về phía sau, nhưng vẫn như mới xảy ra hôm qua. Nó là bức tranh toàn cảnh, rồi hiện dần rơ nét đường xưa lối cũ ngược thời gian. Chuyện là khoảng đầu năm 1974 một bạn nhà binh của Kim mời đến họp mặt, đương nhiên có chén anh chén bác. Những buổi quây quần như thế diễn ra thường xuyên vào cuối tuần, hoặc chiều sau giờ làm việc nơi thị trấn nhỏ. Ông bạn của Kim nêu lư do buổi họp mặt: kỷ niệm 20 năm tṛn cuộc đời binh nghiệp của ông. Các bạn của Kim lúc đó kẻ th́ rời trường 20 năm có, 15 năm có, t́nh cờ mà gặp nhau nêu đủ mọi hàn huyên tâm sự. Qua những câu chuyện chuyên môn về quân sự, Kim như cảm thấy có một cái ǵ bất ổn cho tương lai của đất nước - Họ than thở bị trói tay ở chiến trường, như thiếu đạn, thiếu phi cơ yểm trợ, họ chỉ lên bản đồ miền Nam Việt Nam đưa ngón tay vạch ngang theo vĩ tuyến 13 hoặc 12 ǵ đó. Kim bàng hoàng, thế là một sự phân ly nữa và phần c̣n lại của miền Nam chắc không tồn tại bao lâu. Rồi chúng ta sẽ về đâu đây. Nghĩ đến đó Kim đâm ra lo lắng sợ hăi, dù thường ngày Kim ghét chiến tranh. Chiến tranh dù mang một lư tưởng nào, đều có cái phi lư của nó. Nhớ lại chuyện ngụ ngôn Diêm Vương tuyển lính ở trần gian. Ông đắc ư nhất khi chọn hung thần chiến tranh. V́ hung thần này đem hiệu quả bằng các hung thần kia gộp lại. Ai cũng biết rằng sau chiến tranh th́ hậu quả bệnh tật đói kém v..v... Nhưng khi nghĩ tới phải sống dưới sự cai trị của chính phủ "cách mạng lâm thời miền nam Việt Nam"Kim đâm rùng ḿnh, v́ ngày thơ ấu, c̣n kẹt trong vùng xôi đậu, hay "tự do" 1946 - 1948, anh ta chứng kiến một bà già nghèo khó, đem trứng gà, chuối ra vùng quốc gia, bán để có tiền đong gạo, bị du kích bắt quả tang. Ṭa án tại chỗ xử tử và thi hành ngay. Bà già năn nỉ, không phải van xin tha, nhưng trả tiền để họ mài mă tấu thật bén, để chết khỏi đau đớn. Cũng từ đó Kim thấy rằng bản chất của Việt minh là thế. Cuối năm 1974, trường của Kim đươc ủy nhiệm chủ tŕ đại hội thể thao văn nghệ dành cho các trường Trung học thuộc các quận phía Bắc tỉnh lỵ. Hợp ca (trường của Kim) và vũ khúc Hận đồ bàn được chiếm giải nhất. Cả hai năm văn nghệ đều như báo trước sự chia ly mất mát, như Hận đồ bàn với lời ca ai oán của một dân tộc vong quốc. C̣n hợp ca kia th́ mở đầu lời người ra đi chỉ rơ nhiệm vụ của trai thời lọan sau nhiều liên khúc tiếp nối lại kết thúc bằng Hồn tử sĩ. Khi tổng dợt Kim hỏi giáo sư Trưởng Ban văn nghệ: "Sao lại có sự kết thúc như thế, có thể thêm hay đổi được không?", th́ được trả lời: "Thưa Hiệu trưởng Hợp ca tối đa là 7 phút mà khúc ca đă kéo dài đến 9 phút rồi đó". Cho nên: Rằng hay th́ thật là hay(Nguyễn Du, Kiều) Rồi Tết lại đến, đó là cái Tết cuối cùng của Kim dưới mái trường mà Kim cùng đồng nghiệp có nhiều gắn bó . Những chuyện không b́nh thường xảy đến như báo trước ngă rẽ cuộc đời Kim. Số là một khi cành mai đầu ngơ cho ra những nụ tươi thắm hay hoa cúc bắt đầu nở, th́ người ta biết đó là xuân đang đến Năm này th́ không. C̣n trường học vẫn tổ chức tất niên như thường lệ sau kỳ thi lục cá nguyệt lần I, nhưng có điều lạ hoa tươi, hoa giấy, màu hoa trên các đặc san bích báo toàn màu đỏ tươi của lay-dơn Đà Lạt, hay hoa hồng. Kim có cảm tưởng như mùa hè đến sớm.
Chuyện sẽ đến phải đến - Tin tức chạy loạn từ 10-3-1975 trở đi, đến dồn dập từ cao nguyên, miền trung, ngoài mặt th́ Kim b́nh thản, nhưng thực t́nh anh ta rất rối ruột, nhất là từ ngày 26-3-1975, ngày mất Huế. T́nh h́nh biến chuyển từng ngày một, như ṭa thị chính Đà Nẵng ra thông báo ghi tên đi Nam trong 45 ngày, nhưng vài ngày mạnh ai nấy chạy. Trong hàng ngũ giáo chức cuả trường Kim dạy, một số có gia đ́nh ở miền Nam như Saigon hoặc gần Saigon, vẫn b́nh tĩnh đến lớp đều đặn. Học sinh không bỏ lớp, số vắng không đáng kể, các em thản nhiên chuẩn bị cho kỳ thi lục cá nguyệt lần 2. Trong t́nh thế đó Kim không dám đưa vợ con về Saigon trước, sợ không khí trường học rơi vào sự hỗn lọan. Những ngày vào hạ tuần tháng 3, Kim như người không hồn đi hết chỗ này qua chỗ khác trong thị trấn, thân hữu của Kim bày ăn uống họp mặt giải sầu. Nhưng Kim nuốt không trôi, thậm chí khi đi qua trường ḿnh đang dạy Kim vẫn thấy không khí b́nh an, tiếng giảng bài tiếng trả bài diễn tiến trôi chảy trong môi trường biến động từng giờ. Kim đi thẳng và không dám vào, v́ những ǵ đă gắn bó với Kim hơn năm năm qua giờ sắp mất. Trong tâm trạng hoảng loạn như thế đúng giờ Kim vẫn đến lớp. Bài học hôm đó là chiến tranh thế giới lần 2 mà Kim lại kể chuyện nhật kư của cô Ann Frank, câu chuyện đang đi vào kết thúc th́ thầy Tổng giám thị vào nói nhỏ vừa Kim nghe: "Thưa hiệu trưởng, Khánh Dương mất rồi". Kim đứng thẳng dậy đưa tay ra hiệu cho toàn lớp ra cửa, cả lớp bất động một số mắt đỏ hoe, nức nở với thân phận theo gia đ́nh trốn tránh của cô Ann Frank đồng lứa tuổi, một phần, biết đây giờ học cuối cùng với thầy. Kim lững thững lấy xe phóng ra đường. Ngoài đường, Kim thấy xe đ̣ nối đuôi nhau đầy người lánh nạn xuôi về thành phố. Một giáo sư phụ trách thể thao của trường mời Kim ra sân vận động xem trận đá bóng. Quanh sân vận động trên một số cao ốc, Kim thấy mấy toán nhảy dù trong quân phục tác chiến trang bị khí giới hướng về xa. Kim yên ổn trong ḷng, mặc cho náo loạn của phố phường vẫn ngồi xem hết trận cầu. Mặc cho thời cuộc sắp biến đổi, tuổi trẻ vẫn hồn nhiên sống lành mạnh như trân quí những giây phút thân ái quây quần bên nhau. Thế rồi cơn lốc đổi đời đang xuất hiện nơi chân trời - Đó là ngày 31-3-1975 trường học vẫn c̣n nghỉ lễ Phục sinh. Sân trường vắng lặng mà bên ngoài cảnh chạy loạn diễn ra bằng mọi phương tiện, người ta bầy bố d́u dắt nhau xuôi Nam. Kim đang bối rối và lo sợ th́ từ cổng chính một số giáo sư đến xin chỉ thị, c̣n các bà th́ đỏ hoe đôi mắt. Kim tuyên bố: "Xin giải tán trường kể từ ngày hôm nay và xin chịu hoàn toàn trách nhiệm với cấp trên. Xin quí vị về nhà lo việc cho kịp". Rồi Kim nói tiếp: "Thôi ta đi". Mười hôm sau ngày mất nước, Kim trở về địa phương nơi anh đă dạy học, v́ ủy ban quân quản chỉ thị như vậy. Anh ta phải đến tŕnh diện ủy ban cách mạng để làm tờ khai. Một cựu học sinh phát tờ khai, cậu ấy dằn tờ giấy trước mắt Kim bảo khai đi rồi bỏ đi. Kim đang cặm cụi đọc rồi viết th́ tiếng cậu học sinh nói như thét: "Đồ ngu đă đến nơi rồi tiếc ǵ mà quay về". Kim liếc nh́n xem anh ta nói ai, nhưng quanh đó chẳng có ai ngoài Kim với anh ta. Thế là Kim biết anh ta nói ǵ rồi: dùng lời nguyền rủa mà tiếc cho số phận của Kim trong những ngày sắp đến do những lầm lỗi của chính bản thân Kim và cả sự biến chuyển quá mau lẹ của thời cuộc đối với kẻ thắng người bại. *** Giờ đây nơi quê hương thứ hai, mỗi độ xuân về, Kim lắng ḷng hướng về quê cũ, trường xưa, để nh́n lại thời dấn thân và nghĩ đến những đồng nghiệp, học sinh cũ. Thế mà có lần về quê cũ Kim không có can đảm ghé qua liếc nh́n trường xưa để rồi khi xa cách Kim lại hoài cảm như một cựu học sinh sau đây:
" Xin đừng lay để tôi c̣n ôm ấp (Trần thị Minh Nguyệt - Ngậm ngùi sân cát, Thương gởi thầy cô và bạn cũ) ***
Thăm anh Kim và gia đ́nh. Từ ngày tan hàng cho đến nay, tôi nghe anh đă định cư bên đó rồi. Tôi rất mừng viết thư thăm anh đây. Nghe sau khi ra tù, anh và gia đ́nh lưu lạc trong Nam quanh Saigon, cuộc sống nghe nói vất vả lắm. C̣n tôi lúc anh đi tù tôi vẫn tiếp tục dạy học dưới chế độ cũ với dạng LƯU DUNG (không phải lưu dụng đâu nha, v́ bà con Nam cứ lầm lẫn). Đầu năm 1990 gia đ́nh tôi về Nam. Nhờ sự tháo vát của vợ, tôi đổi nghề giúp vợ công việc thương trường. Nói là thương trường nghe cho oai vang, chứ thật ra là chạy chợ đi giao hàng đặt. Nay th́ con đă lớn có đứa đi du học. Tin cho anh mừng. C̣n tôi nay tuy đă giải nghệ rồi, nhưng mỗi khi có chuyện người cũ, trường cũ trong môi trường giáo dục mới, tôi chạnh nhớ đến một thời gian gắn bó với phấn trắng bảng đen, với chế độ mới. Khi anh chạy từ Saigon về th́ tôi đang theo lớp bồi dưỡng chính trị để học làm "người giáo viên nhân dân". Gặp anh, tôi tránh đi như những các bạn giáo chức khác, v́ anh đang bị bao vây và đang có vấn đề. Một số học sinh đang nô đùa nghịch ngợm thoảng thấy anh vội im lặng nép vào tường. Cử chỉ đó chỉ có khi anh c̣n tại chức chứ bây giờ anh là người tương lai mà. C̣n có một nam sinh lớp 10, anh bắt hớt tóc ngắn như học sinh khác đúng theo nội quy của trường, nhưng nơi chỗ riêng tư anh thổ lộ nó có mái tóc đen nháy, đẹp, phủ lên đôi má bầu bĩnh hồng hào tự nhiên, khuôn mặt đó phải có mái tóc đẹp phủ dài xuống cổ mới đẹp. Bố mẹ cậu học sinh đó v́ thương con phải đến năn nỉ anh th́ phải. Khi đổi đời, cậu ta do nhiều nguồn kích động hằm hằm nói: "Thằng Kim đâu rồi nó có về đó hả". Chuyện đáng tiếc không xảy ra v́ có sự can thiệp của cha mẹ nó . Một chuyện ngược đời sau đây - theo tôi nghĩ - đánh dấu trang cuối của Trường cũ, Người cũ . Đó là sang 1-4-1975, lúc đó đường phố đang hỗn loạn v́ ḍng người như thác đổ chen nhau chạy loạn, th́ bên vệ đường bên kia, các em học sinh trường chúng ḿnh vẫn tề tựu đông đủ, cặp sách trên tay chuẩn bị vào trường thi lục cá nguyệt, có lẽ sau 3 hôm nghỉ phục sinh các em không nghe thông tin ǵ của trường. Sau đó thấy trên bảng đen có ghi hàng chữ nguyệch ngoạc: "Hôm nay không có thi", h́nh như do một bác trường phu già viết th́ phải . Lúc đó các cô cậu mới ra về! Sự ngược đời đó nói lên điều ǵ truyền thống, về nếp trọng thầy dạy qua biểu hiện tuân thủ nội quy. Truyền thống này lưu truyền trong huyết quản trái tim từ thế hệ này sang thế hệ khác, khởi bước từ 1075, năm có khoa thi đầu tiên. Ngày nay giáo dục chế độ mới lấy Hiến chương Warsawa 20-12-1920 làm căn bản, dựa theo lời của Lenine: "giáo dục tư bản sai lầm phải bỏ đi đến 99% c̣n 1% phải xét lại". Tuy 20 năm lại đây có đổi mới, nhưng chỉ đổi mới danh xưng: tú tài, cử nhân, tiến sĩ, thạc sĩ (họ bỏ danh xưng Phó tiến sĩ rồi) giống như những nhà giàu mới ở Việt Nam bây giờ chuộng đồ cổ, nên bạn đừng lạ. Họ lùng mua nhà rường gỗ ở ngoài Trung với giá cao 100,000 USD trở lên. Sự thành công về giáo dục ở Việt Nam sau hơn 30 năm thanh b́nh là có một số lượng tiến sĩ thạc sĩ đông đảo, nghe nói: "Bộ giáo dục sẽ đào tạo thêm hai mươi ngàn tiến sĩ nữa trong ṿng 10 năm. Người ta nói số tiến sĩ xuất thân từ các Đại học Việt Nam bằng tổng số tiến sĩ từ các trường Đại học trên thế giới gộp lại. Số lượng giấy in bằng cấp cao như núi, khiến tôi chạnh nhớ bài thơ Tiến sĩ giấy của cụ Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến:
Cũng cờ cũng biển cũng cân đai (thay v́ cờ biển vua ban cũng lạ đời) Chuyện lạ đời ở cuối thế kỷ 20 trên quê hương ḿnh. Đó là trên TV một vị tiến sĩ họ Từ tên Giấy giảng giải lợi ích của Vitamin A, B, C, E... kiến thức khoa học thường thức này, nên dành cho người đẹp xướng ngôn của Đài truyền h́nh th́ hơn. Không hiểu sao ông lại dành job của các cô, thế th́ công tŕnh nghiên cứu nơi pḥng lạnh của trường Dược hay của các công ty sản xuất thuốc tây ai làm nhỉ. Một chuyện lạ đời và đau ḷng nữa là số học sinh lớp 9 hoặc lớp trên nữa, v́ học dốt rồi sợ và ghét tiếng Việt! Việc này hàng năm qua báo cáo về thi cử chắc anh đă nghe nhiều rồi. Tôi c̣n nhớ vào khoảng trung tuần tháng 4 năm 1975 khi Saigon chưa mất, ở Huế người ta làm lễ khai giảng năm học mới. Chị TTND, Tiến sĩ ở Pháp, nguyên giáo sư môn địa lư Đại học Huế đầu quân chế độ mới, dơng dạc tuyên bố mở đầu năm học chế độ mới. Tôi có cảm tưởng chị ta là một Lư Tư dưới triều đại Tần Thủy Hoàng hồi trước bên Trung Hoa, v́ sau đó có việc thu hồi sách, đốt sách, xé sách, lưu đầy trí thức về đồng nội hoang dă, hoặc đầu ngơ cuối chợ. Cho nên mới có cảnh trớ trêu là học và nói tiếng Việt mà như học và dùng một ngôn ngữ xa lạ. Ư nghĩa của một từ ngữ th́ phải được hiểu ngầm hoặc phải hiểu nhiều nghĩa, phát âm nghe th́ chói tai có khi c̣n dung tục nữa là đằng khác. Cho nên ước mong của tôi là lớp trẻ trưởng thành ở ngoại quốc cố gắng sao cho nói và viết tiếng Việt thành thạo trước đă, sau đó mới nói đến chuyện nghiên cứu cái hay cái đẹp của lịch sử và văn hóa dân tộc. Tôi c̣n nhớ tháng 6/1945, thủ tướng Trần Trọng Kim đă đọc bài diễn văn bằng tiếng Việt trong lễ phát thưởng mở đầu hướng đi mới cho ngành giáo dục Việt Nam sau hơn 60 năm (1984-1945) - Từ đó, người Việt quốc gia dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ trong các cấp tiểu học, trung học và đại học sau này. Trước đó, ngày 11-3-1945 tuyên ngôn độc lập do Hội đồng cơ mật triều đ́nh Huế soạn thảo, được công bố cũng bằng tiếng Việt. Đó là Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên bằng tiếng Việt và tiếng Pháp hiện c̣n lưu trữ tại Centre des Archies d' Outre-Mer ở Aix en Provence Pháp. Cho nên, theo tôi nếu bài diễn văn của chị TTND tại Huế tháng 4/1975 áp đặt chính sách giáo dục theo tinh thần hiến chương 20-11-1920 cho miền Nam, th́ một ngày nào đó trong tương lai, sẽ có một tuyên ngôn khác về giáo dục bằng tiếng Việt trong sáng sẽ nối tiếp truyền thống giáo dục của nhiều thế hệ tiền thân chúng ta từ 1075 đến nay. Chúng ta đă sống qua những đêm dài năm tháng trong chiến tranh, nhưng giáo dục miền Nam vẫn tiêu biểu có nề nếp nhân bản, khai phóng, thanh bạch và trong lành. Chúng ta đă từng ước mơ một ngày thanh b́nh trên quê hương toàn cảnh văn hoá xă hội, một khi không c̣n bóng mây mờ chinh chiến sẽ sáng toả rạng rỡ hơn nữa. Nhưng buồn thay, 32 mùa Xuân thanh b́nh trôi qua, nền giáo dục Việt Nam lâm vào ngơ cụt, buôn bán chữ nghĩa, bát nháo như chợ thi thời Trịnh Giang, thế kỷ 18. Người ta c̣n nói đó là văn hoá bất lịch sự đang ngự trị xă hội. Nhưng tôi vẫn ước mơ nhờ hồn thiêng của đất nước, những đêm dài sống và nghe loại ngôn ngữ như tôi vừa nêu trên sẽ không c̣n nữa. Nó sẽ bị ném vào sọt rác của lịch sử, một cách không thương tiếc. V́ chân lư lịch sử sẽ đào thải nó. Anh Kim à, trong niềm tin và hy vọng về một thông điệp mới, tôi xin tạm chấm dứt đề cập đến chuyện dài nhiều tập của một nền giáo dục quái gở, đă đầu độc tuổi thơ hơn ba mươi năm qua. Chúc anh và gia quyến vui khoẻ. Bạn anh: Phụng Đọc xong lá thư, ḷng bồi hồi, xót xa, cố nén một tiếng thở dài, Kim lẩm bẩm nhắc lại ư của người bạn: "Đúng! Phải tin tưởng vào hồn thiêng sông núi để mà hy vọng..." Những ngày đón xuân Mậu Tư |