Phần 2

Những Năm Tư trong Lịch Sử

GS Nguyễn lư Tưởng sưu tầm


       . . . . .

       - Canh Tư (1780), quân Tam Phủ nổi loạn ở Thăng Long: Tháng 9, Trịnh Sâm bỏ con trưởng là Khải (tên cũ là Tông, con của vợ chính) và lập con thứ là Cán (con của Đặng Thị Huệ, vợ thứ).  Phe Đặng Thị Huệ được Hoàng Đ́nh Bảo ủng hộ.  Trịnh Khải bị tố cáo âm mưu đảo chính Trịnh Sâm nên bị mất quyền nối ngôi (thế tử) và bị giam...  Sau khi Trịnh Sâm chết, phe ủng hộ Trịnh Khải lợi dụng lính Tam Phủ, giết Hoàng Đ́nh Bảo, lật đổ Trịnh Cán...

       - Tháng Giêng, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vương tại Gia Định (thường gọi là Nguyễn Vương) dùng ấn "Đại Việt quốc, Nguyễn chúa Vĩnh trấn chi bảo" (ấn nầy do chúa Nguyễn Phúc Chu làm ra để truyền cho con cháu nối nghiệp chúa).  Tháng 3, bà nguyên phi (hoàng hậu) họ Tống sinh Hoàng tử Cảnh (tức Anh Duệ hoàng thái tử).

       - Nhâm Tư (1792): Nguyễn Phúc Ánh đem quân đánh Quy Nhơn,-Nguyễn Huệ mất tại Phú Xuân.

       - Tháng 5, Nguyễn Phúc Ánh dược tin báo Nguyễn Nhạc đang tập trung chiến thuyền đậu ở cửa Thị Nại (Quy Nhơn) dự tính vào cướp phá Gia Định, lợi dụng mùa gió Nồm, trong lúc quân Tây Sơn không pḥng bị, sai các tướng Tôn Thất Huy, Vơ Tánh, Tống Phước Đạm, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Trương, Phạm Văn Nhân... bất ngờ đem đại binh ra đánh Quy Nhơn.  Đại quân của chúa Nguyễn đă vào tới cửa Thị Nại mà tướng Tây Sơn giữ cửa biển không biết nên bỏ chạy.  Thuyền ghe và khi giới bị quân Nguyễn bắt được hết (5 chiếc thuyền lớn, 30 chiếc thuyền đi biển, 40 chiếc thuyền tuần tiễu...)  Ba chiếc thuyền của bọn cướp biển Tề Ngỗi (người Tàu) cũng bị bắt... Nguyễn Phúc Ánh đóng quân ở chợ Thị Nại, dựng cờ, phủ dụ dân chúng, cấm binh sĩ không được cướp bóc của dân.  Rồi ra lệnh rút quân về.  Mỗi năm, cứ đến mùa gió Nồm (tháng 5, 6) quân Gia Định lại kéo ra...đánh phá Quy Nhơn, thời gian đi và về trong 10 ngày, người ta gọi là thần binh.

       - Tháng Bảy, Nhâm Tư, Nguyễn Huệ mất tại Phú Xuân.  Nguyễn Quang Toản nối ngôi, niên hiệu Cảnh Thịnh.  Trước khi mất, Nguyễn Huệ dặn Quang Toản phải dời đô về Nghệ An, nơi đó, Nguyễn Huệ đă cho xây thành vững chắc đặt tên là Phượng Hoàng trung đô.  Bùi Đắc Tuyên là cậu của Nguyễn Quang Toản được làm Thái sư quốc công nhiếp chính.

       - Giáp Tư (1804): vua Gia Long xây kinh thành Huế.  Tháng 5, vua Gia Long khởi sự xây cung thành (cung vua) và hoàng thành Huế.  Sách "Đại Nam Thực Lục Chính Biên" cho biết: "Cung thành bốn mặt dài suốt 307 trượng 3 thước 4 tấc, xây bằng gạch, cao 9 thước 2 tấc, dày 1 thước 8 tấc.  Phía trước có cửa Tả túc, cửa Hữu túc, bên tả là cửa Hưng Khánh, bên hữu là cửa Gia Tường, phía sau là cửa Tường Lân và cửa Nghi Phượng.  Hoàng thành 4 mặt dài suốt 614 trượng, xây gạch, cao 1 trượng 5 thước, dày 2 thước 6 tấc.  Hồ bọc 3 phía, tả, hữu, hậu, dài suốt 464 trượng 1 thước.  Phía trước có cửa Tả Đoan và cửa Hữu Đoan, bên tả là cửa Hiển Nhơn, bên hữu là cửa Chương Đức, phía sau có cửa Cung Thần.  Cửa Tường Lân sau đổi làm cửa Tường Loan, cửa Cung Thần sau đổi làm cửa Địa B́nh.  Sai Nguyễn Văn Chương và Lê Chất trông coi công việc.  Các quân ứng dịch ở đây được thưởng thêm lương tiền.  Lại lấy sự chậm chóng để thưởng phạt".   (ĐNTLCH đệ I Kỷ, q.XXIV bản dịch Hà Nội, tr. 179) kinh thành Huế (cũng gọi là hoàng thành tức thành ngoại) được xây theo kiểu Vauban, thế kỷ 17 ở Âu Châu.  Cung thành (hay hoàng cung cũng được gọi là thành nội) được mô phỏng theo thành Bắc kinh (Trung quốc) thu hẹp.  Đây là kinh thành lớn nhất của Việt Nam từ trước tới nay.  Năm 1804, thành nội và thành ngoại đă xây xong, vua Gia Long ban thưởng cho lính và thợ cùng các cấp chỉ huy.  Các nhà cửa cung điện và phần trang trí bên trong c̣n phải mất nhiều năm nữa, qua đến đời Minh Mạng mới xong.

       - Người con của Lê Quư Đôn (bảng nhăn thời nhà Lê) là Lê Duy Thanh đem dâng bộ sách "Phủ biên tạp lục" (6 quyển) và "Quần thư khảo biện" của cha.

       - Sứ nước Anh đến dâng lễ vật, xin sứ quán tại Đà Nẵng, xin thông thương buôn bán...  Vua không cho.

       - Vua ra lệnh lập đền thờ ở Gia Định để thờ những công thần đă chết.  Tổng cộng 1.015 vị được ghi tên vào bài vị để thờ.

       - Quản tàu Long Phi là Nguyễn Văn Thắng (Chaigneau, người Pháp, theo giúp vua Gia Long) dâng sách Toán học và sách Thiên Văn của Tây phương.

Vượt Biên        - Mậu Tư (1828): Vua Minh Mạng sai làm cầu phao qua sông Hương để đi tế Trời Đất tại đàn Nam Giao.  Hữu ty làm cầu phao qua sông Hương để rước xa giá vua đi nhưng nước sông tràn lên cầu nên vua phải dùng thuyền qua sông.  Đại Nam Thực Lục Chính Biên chép rằng: "Tháng hai, ngày Bính tuất, tế Trời Đất ở đàn Nam giao.  Trước đây Hữu ty làm cầu phao để qua sông Hương, lại sai bày quân thí nghiệm.  Đến trước tế Nam giao một ngày, xa giá đến Trai cung, đi qua cầu phao nước sông tràn lên, bầy tôi đi theo đều sợ.  Vua không biến sắc mặt, sai đổi lấy thuyền rồng theo hầu để sang sông.  Ngừơi chuyên coi làm cầu là Nguyễn Tài Năng, người thí nghiệm là Phan Văn Thúy cùng người phù giá là Phạm Văn Lư đều bị đ́nh thần tham hặc.  Nhà vua đặc mệnh giáng cấp khác nhau.  Dụ rằng: "Việc nước tràn lên cầu, cũng là việc bất ngờ không tính trước được, t́nh c̣n khá thương, cho nên gia ơn khiến biết răn mà thôi.  Nếu giao cho công nghị, th́ cũng khó v́ bọn ngươi mà bỏ phép nước được".

       - Canh Tư (1840) Vua Tự Đức sai sứ qua nhà Thanh: Phan Huy Vịnh (chánh sứ), phái đoàn gồm có Lưu Lượng, Vũ Văn Tuấn, Phạm Chi Hương, Nguyễn Hữu Huyến và Nguyễn Du để tạ ơn nhà Thanh năm trước đă cho sứ qua phong vương tại Huế. -Giáp Tư (1864): -Cho Nguyễn Công Trứ lănh chức Dinh điền sứ. Nguyễn Công Trứ dâng sớ gồm 3 điều:-luật pháp nghiêm minh để diệt trừ trộm cướp;-thưởng phạt nghiêm minh để khuyến khích quan lại;-khai khẩn ruộng hoang cho dân nghèo.. -Bính Tư (1876): lănh sự nước Pháp ở Quảng Yên xin khai mỏ than ở Đông Triều. Bùi Ân Niên đi sứ nhà Thanh -Cho Khâm sứ nước Pháp là Lêâ Na xây dinh thự ở phía Nam sông Hương (sau nầy là Ṭa Khâm sứ Trung kỳ). Bọn giặc cướp từ bên Tàu qua quấy phá các tỉnh miền núi vùng biên giới. Vua Tự Đức ra lệnh cho các quan địa phương lo việc tuần pḥng, đánh dẹp. Miền Bắc lũ lụt, đê Văn Giang bị vỡ nhiều lần...

       -Tháng 6, cử Bùi Ân Niên đi sứ sang nhà Thanh cống hàng năm, t́nh h́nh lúc đó đất Nam kỳ đă bị người Pháp chiếm rồi nên vua vẫn hy vọng nhà Thanh giúp can thiệp với Pháp để giữ được Bắc Kỳ.  Sự thực nhà Thanh lúc bấy giờ đă suy yếu phải chống đỡ vớic ác nước Tây phương luôn gây sự với Trung quốc nên chẳng giúp ǵ được nước ta.  Theo ḥa ước đă kư với Pháp trước đây, Pháp đem tàu thủy, súng, thuốc súng, đạn dược đến tặng cho vua Tự Đức.  Vua truyền cho lính tập bắn thử, có người Pháp đến Thuận An huấn luyện cách sử dụng.

       - Mậu Tư (1888): Tháng 9, Vua Hàm Nghi bị Pháp bắt. Ngày 27 tháng Chạp, Vua Đồng Khánh mất.  Tháng Giêng, vua Đồng Khánh phong cho Nguyễn Hữu Độ (nguyên Khâm Sai Kinh Lược Bắc Kỳ, tước Vĩnh Lại Bá) được lên tước Vĩnh Lại Quận Công.  Nguyễn Trọng Hợp, Thượng Thư bộ Lại, tước Hiệp biện đại học sĩ được thăng lên Văn Minh điện đại học sĩ.  Sau vụ kinh thành thất thủ 23 tháng 5 Ất Dậu (5/7-1885) do Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết chủ trương tấn công Pháp thất bại, vua Hàm Nghi theo Tôn Thất Thuyết ra Quảng Trị th́ Nguyễn Hữu Độ và Phan Đ́nh B́nh từ miền Bắc trở về Huế, hợp tác với Pháp để ổn định t́nh h́nh chính trị, đưa vua Đồng Khánh lên ngôi.  Nguyễn Hữu Độ là Phụ chính đại thần và con gái của ông làø Nguyễn Thị Nhàn được vua Đồng Khánh phong làm chánh phi (hoàng hậu).

       - Mùa Xuân năm Mậu Tư (1888), Pháp muốn chứng tỏ t́nh h́nh đă ổn định nên gợi ư vua Đồng Khánh tổ chức du Xuân...

       -Vua phong cho cha là Hồng Cai tước Kiên Thái vương..

       - Vua ra lệnh cho Quốc sử quán làm sách Thực Lục ghi việc từ vua Tự Đức thứ 36 (1883) đến tháng 8, Hàm Nghi năm đầu (1885)

       -Tháng 9, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt. Tháng 7/1885, sau khi kinh đô Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra Quảng Trị, sau đó ra Quảng B́nh nhưng bị quân Pháp chận đường nên qua sông Tchépône theo đường núi thuộc địa phận nước Lào để ra Hà Tĩnh...  Sau khi Tôn Thất Thuyết ra Bắc và qua Trung quốc cầu viện nhà Thanh thất bại, vua lẩn trốn trong vùng núi thuộc huyện Tuyên Hóa (giáp ranh hai tỉnh Quảng B́nh và Hà Tĩnh) có Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm ở bên cạnh vua.  Tháng 9 năm Mậu Tư (1888) vua bị Trương Quang Ngọc và Nguyễn Đ́nh T́nh làm phản, ban đêm dẫn quân Pháp vào tận chỗ vua,Tôn Thất Thiệp rút gươm chống cự bị Pháp giết tại chỗ, vua bị đưa về Hà Tĩnh.  Vua giữ im lặng không trả lời và không chịu nhận ḿnh là Hàm Nghi.  Nhưng khi người thầy dạy của vua nghe tin, đến yết kiến. T rước mặt ông thầy cũ của ḿnh, vua đă vái chào một cách lễ phép...  Từ đó, Pháp biết chắc chắn đó là vua Hàm Nghi.  Vua Đồng Khánh xin cho vua Hàm Nghi trở về Huế để anh em gặp nhau, nhưng người Pháp từ chối, lấy lư do đă đến ngày tàu phải rời bến.  Vua liền cho một phái đoàn đến thăm vua Hàm Nghi tại Thuận An.  Sau đó, vuaHàm Nghi bị đày qua Alger (Bắc Phi).

       - Tháng 11, Nguyễn Hữu Độ mất.  Qua tháng sau, ngày 25 tháng Chạp, vua Đồng Khánh đau nặng.  Ngày 27 tháng Chạp năm Mậu Tư (28/01/1889) vua mất ở điện Càn Thành, thọ 25 tuổi.  Các hoàng tử con vua Đồng Khánh đều c̣n nhỏ tuổi, (hoàng tử Bửu Đảo sau nầy là vua Khải Định, lúc đó mới 3 tuổi) hoàng gia và người Pháp chọn con thứ 7 của vua Dục Đức là Hoàng tử Bửu Lân lên nối ngôi lấy niên hiệu Thánh Thái.

       - Canh Tư (1900): khoa thi Hương năm Canh Tư: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Vơ Bá Hạp đều thi đỗ cử nhân.  Về sau những người này đều dấn thân vào con đường tranh đấu, khởi xướng phong trào Duy Tân.

       - Nhâm Tư (1912) Thành lập Việt Nam Quang Phục Hội tại Quảng Châu (Trung quốc).  Sau khi Tôn Dật Tiên lănh đạo cuộc cách mạng lật đổ nhà Thanh năm Tân Hợi (1911) thành công ở Trung Hoa, tháng 2 năm 1912 (Nhâm Tư) các nhà cách mạng Việt Nam thành lập Việt Nam Quang Phục Hội tại Quảng Châu, tôn Kỳ ngoại hầu Cường Để làm Hội trưởng, Phan Bội Châu làm Tổng Lư.

      - Giáp Tư (1924): Vua Khải Định qua đời, Hoàng tử Vĩnh Thụy, lúc bấy giờ c̣n nhỏ tuổi, đang du học tại Pháp, trở về nước thọ tang và lên nối ngôi lấy niên hiệu Bảo Đại. Nhưng măi đến 1933, ông mới trở về nước chấp chánh. -Ngày 19-06-1924, tại khách sạn Sa Diện (Trung Hoa), Phạm Hồng Thái ném bom ám sát toàn quyền Pháp tại Đông Dương là Martial Merlin, nhưng Merlin thoát chết. Phạm Hồng Thái nhảy xuống sông Châu Giang tự tử. Phan Bội Châu có liên hệ đến vụ này nên bị lên án xử tử vắng mặt, Pháp lùng bắt những người yêu nước chống Pháp nhất là đảng viên Việt Nam Quang Phục Hội. Bính Tư (1936): Nam Phương hoàng hậu sinh hoàng tử Bảo Long.  Vua Duy Tân bị đày ở đảo Réunion, gởi thư cho chính phủ Pháp yêu cầu được trở về nước.

        - Mậu Tư (1948): Giải pháp Bảo Đại ra đời: Đại diện các tôn giáo, đảng phái chính trị (không Cộng Sản) ở trong nước qua Hồng Kông gặp vua Bảo Đại đề nghị nhà vua đ̣i Pháp trả độc lập cho Việt Nam.  Ngày 7 tháng 01 năm 1948, trước Tết Mậu Tư, Bảo Đại hội đàm với đại diện Pháp là Bolaert tại Genève, sau đó lại gặp nhau tai Vịnh Hạ Long (trên tàu thủy của Pháp).  Ngày 26/3/1948, Bảo Đại tuyên bố đồng ư lập một chính phủ lâm thời để điều đ́nh với Pháp.  Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân được đề cử đứng ra thành lập chính phủ lâm thời tại Sài G̣n: quốc kỳ: cờ vàng ba sọc đỏ; quốc ca: bài Thanh niên hành khúc của Lưu Hữu Phước (có thay đổi lời cho phù hợp với t́nh h́nh).  Thành phần chính phủ như sau:

  • Chủ tịch HĐ Tổng trưởng kiêm Tổng trưỡng Quốc pḥng: TT Nguyễn Văn Xuân
  • Quốc vụ khanh Phó C.T Hội đồng TT kiêm Tổng trấn Nam Phần: Trần Văn Hữu
  •  
  • Quốc vụ khanh kiêm Tổng trấn Trung Phần: Phan Văn Giáo
  • Quốc vụ khanh kiêm Tổng trấn Bắc Phần: Nghiêm Xuân Thiện
  • Quốc vụ khanh: Lê Văn Hoạch
  •  
  • Tổng trưởng Lễ nghi - Giáo dục: Nguyễn Khoa Toàn
  • .
  • Tổng trưởng Nội vụ: Nguyễn Hữu Trí (sau không nhận)
  • Tổng trưởng Tư pháp: Nguyễn Khắc Vệ
  • Tổng trưởng Tài chánh và Kinh tế quốc gia: Nguyễn Trung Vinh
  • Tổng trưởng Công tác và Kế hoạch: Nguyễn Văn Tỵ
  • Tổng trưởng Thông tin, báo chí và tuyên truyền: Phan Huy Đán (tức Phan Quang Đán)
  • Tổng trưởng Canh Nông: Trần Thiện Vàng
  • Tổng trưởng Y tế : BS Đặng Hữu Chí
  • Quốc vụ khanh tùng Bộ Quốc pḥng: Trần Quang Vinh
  • Thử trưởng tùng dinh Chủ Tịch: Đinh Xuân Quảng
  • Thứ trưởng tùng Bộ Giáo Dục: Hà Xuân Tế Công bố bản Tuyên ngôn Việt - Pháp: Pháp long trọng thừa nhận Việt nam độc lập và thống nhất.  VN hứa sẽ gia nhập Liên Hiệp Pháp.  Quốc Hội Pháp vẫn chưa phê chuẩn hiệp ước Vịnh Hạ Long giữa Bảo Đại và Bolaert.

Tái Chiếm Cổ Thành Quảng Trị        - Canh Tư (1960): Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm đưa ra kế hoạch dinh điền, đưa đồng bào nghèo ở miền Trung lên định cư ở vùng Cao Nguyên hoặc vào Miền Nam.

       - Lực lượng vơ trang Việt Cộng bắt đầu phá hoại ở Miền Nam.

       - Tại Tokyo, Nhật và Việt Nam kư kết các văn kiện bồi thường chiến tranh.

       -Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đi thăm Đài Loan

       - Hà Nội đàn áp văn nghệ sĩ : Xử vụ Nhân Văn Giai Phẩm...

       - Cựu Thủ Tướng Nguyễn Phan Long từ trần tại Sài G̣n ngày 15/7/1960 thọ 72 tuổi.

       - VNCH cải tổ Nội Các: Nguyễn Văn Lượng thay Nguyễn Văn Sỹ (Tư Pháp); Bùi Văn Lương thay Lâm Lễ Trinh (Nội Vụ); Nguyễn Đ́nh Thuần thay Trần Trung Dung (Quốc Pḥng)...

       - 11/11/1960: đảo chánh lật đổ TT Ngô Đ́nh Diệm thất bại: Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Trung Tá Vương Văn Đông chạy qua Nam Vang... Trung Tướng Thái Quang Hoàng bị phe đảo chánh bắt đi theo qua Nam Vang, Trung Tá Nguyễn Triệu Hồng bị chết.

       - Hội nghị Lương Nông quốc tế tổ chức tại Sài G̣n.

       - 8/12/1960: thành lập Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Ṭa Thánh Vatican bổ nhiệm ba vị Tổng Giám Mục tại Hà Nội (TGM Trịnh Như Khuê), Huế (TGM Ngô Đ́nh Thục) và Sài G̣n (TGM Nguyễn Văn B́nh), thành lập Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (Miền Nam)

       - 20/12/1960 CS Hà Nội thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thay cho Mặt Trận Tổ Quốc trước đây để chống Mỹ và chống chế độ Ngô Đ́nh Diệm.

       Nhâm Tư (1972): Quân Bắc Việt vượt qua sông Bến Hải: Mùa Hè đỏ lửa: Mặt trận Quảng Trị, B́nh Long - An Lộc - Kontum...  Ngày 30/3/1972, quân Bắc Việt với xe tăng yểm trợ, đă vượt vĩ tuyến 17, vùng phi quân sự để tấn công vào tỉnh Quảng Trị.  Ngày 2/4/1972, Chuẩn tướng Vũ Văn Giai, Tư lệnh Sư đoàn 3 bỏ thị xă Quảng Trị.  Ngày 27/4, CS chiếm thị trấn Đông Hà.  Ngày 1/5/1972, CS chiếm Quảng Trị.  Dân chúng bỏ chạy vào Huế, Đà Nẵng... VC pháo kích giết hàng ngàn người trên đoạn đường Quảng Trị - Hải Lăng (báo chí gọi là "Đại lộ kinh hoàng".  Ngày 13/5/1972, quân VNCH phản công, lập pḥng tuyến phía Nam Mỹ Chánh để tái chiếm Quảng Trị.

       - Ngày 26/7, Thủy Quân Lục Chiến VNCH tái chiếm Quảng Trị, treo cờ trên cổ thành.  Thành phố chỉ c̣n lại một đống tro tàn.  CS vẫn c̣n pháo kích và mở các trận đánh chung quanh Quảng Trị.  Ngày 15/9/1972, sau 4 ngày cận chiến, quân đội VNCH hoàn toàn tái chiếm thị xă Quảng Trị ở phía Nam sông Thạch Hăn.  CS vẫn chiếm phía Bắc sông Thạch Hăn và một vài vùng thuộc Triệu Phong, Hải Lăng...

       -Trong tháng 5/1972, trong khi tấn công Quảng Trị, quân CS cũng cũng mở các mặt trận tại Kontum và B́nh Long, An Lộc nhưng đă thất bại...

       - Giáp Tư (1984): đồng bào trong nứớc tiếp tục t́m đường vượt biên bằng những chiếc tàu nhỏ được báo chí thế giới gọi họ là "những thuyền nhân".  Nhiều người đă chết trên sông, trên biển, trong rừng sâu.. Hà Nội cho chuyển những người tù cải tạo vào Nam, số c̣n lại tập trung về trại Nam Hà, Thanh Cẩm, v.v...  Nguyễn Văn Linh theo gương Nga hô hào "đổi mới hay là chết".  Nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê qua đời tại Sài G̣n (1912 - 1984) để lại nhiều tác phẩm giá trị.  Cuối đời, ông mới thú nhận đă sai lầm khi cho rằng Cộng Sản là những người yêu nước, yêu dân.

       - Bính Tư (1996): Sau khi Mỹ chính thức lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, Đảng CSVN đưa ra chủ trương "kinh tế thị trường dưới định chế xă hội chủ nghĩa" một lối ngụy biện để che đậy cho việc làm ăn theo lối tư bản "đỏ" và độc quyền tham nhũng, bóc lột dân.

       Mậu Tư (2008): Dấu hiệu báo trước ngày tàn của chế độ CSVN.  Những biến động xảy ra trong những năm gần đây, nhất là phong trào đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền... và sự ra đời của khối 8406 rồi phong trào dân oan khiếu kiện... là những dấu hiệu báo trước sự bất măn của nhân dân đă đến tột đỉnh...  Ḥn phụ tử ở Hà Tiên sụp, cầu bắc qua sông Cần Thơ sụp chẳng khác nào "lời cảnh cáo" về sự cáo chung của chế độ CS sắp đến nơi rồi??.