Sau Tết Mậu Thân, năm 1968, tôi trở lại quân ngũ theo lệnh gọi tái ngũ của Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa Nguyễn Văn Thiệu. Tôi vào lính năm 1962, theo học khóa 13 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Hơn bốn năm xông pha ngoài mặt trận, đôi dày saut dẫm nát núi rừng vùng tiền sơn, các tỉnh Nam Ngăi, rồi chuyển vào vùng Đức Ḥa, Đức Huệ, tỉnh Hậu Nghĩa, vùng Cần Giuộc, Cần Đước, tỉnh Long An, và các quận sát biên giới Việt Miên thuộc tỉnh Tây Ninh, tôi cảm thấy mệt mỏi và nghĩ ḿnh đă bỏ phí thời trai. Tuổi thanh xuân qua mau, "ba vạn sáu ngh́n ngày là mấy", mà ḿnh tiêu pha hoang phí tuổi đời trong các cánh rừng già hay núi non hiểm trở, hoặc nơi thôn dă buồn thiu. Quanh năm suốt tháng chỉ làm bạn với trăng sao, với gió núi mưa nguồn. Súng là vợ, đạn là con. Ba lô không rời vai, dày trận không rời chân. Đêm nằm vơng đong đưa tha hồ cho muổi đốt.
Đúng bốn năm thi hành quân dịch pháp định - Sĩ quan bốn năm, Hạ sĩ quan 3 năm, Binh sĩ quân dịch th́ 2 năm - Tôi làm đơn xin giải ngũ. Nhưng chưa được hai năm sống thoăi mái cuộc sống của một phó thường dân Nam Bộ - Ngày xưa người chinh phu của cụ Đặng Trần Côn và bà Đoàn Thị Điểm th́ được sống trong hoàn cảnh "Nước thanh b́nh ba trăm năm cũ"
Nhưng ngày nay, bọn cộng sản phương Bắc với chủ trương thống nhất đất nước bằng bạo lực, dân chúng chỉ mới sống thanh b́nh được vài năm, th́ chúng đă xâm nhập, gây chiến rồi mở cuộc tổng công kích và nổi dậy khắp nước, khiến toàn miền Nam sôi sục không khí chiến tranh. Trước kia người lính Cộng Ḥa phải vào tận rừng sâu, leo lên núi cao mới t́m được Việt cộng để tiêu diệt chúng. Người lính Cộng Ḥa đă vất vả trăm chiều để ngăn chặn chúng từ xa. Hậu phương và tiền tuyến có lằn ranh rỏ rệt. Trong lúc ở tận rừng sâu, nơi núi thẳm, hay tại những thôn xóm hẻo lánh xa xôi, người lính Cộng Ḥa và người dân quê khốn khổ hằng ngày, hằng giờ, đối diện với chiến tranh tàn khốc và hủy diệt do bọn Việt cộng gây ra, th́ ở thành thị, một số người vô trách nhiệm, bọn tham nhũng, bọn cậy quyền thế, bọn con cha, cháu ông, trốn tránh quân dịch, hay nếu có đi th́ t́m cách chạy chọt về các nha sở trung ương, vẫn sống thác loạn, vẫn bất nhân. Họ ngoảnh mặt làm ngơ, coi như cuộc chiến là của ai, của những người lính mà thôi. Măi về sau này, khi cuộc chiến sắp đến hồi ngă ngũ th́ mới có phong trào Hậu phương yểm trợ Tiền tuyến, h́nh thành các đơn vị kết nghĩa, như Bộ Nội vụ, Tổng Liên đoàn Lao công kết nghĩa với Sư đoàn 18 Bộ Binh. Nhưng bây giờ th́ chiến tranh đă đến, đến tận đường phố, vào cả trong nhà. Ṭa Đại sứ Mỹ, nơi được canh gác cẩn mật, nghiêm pḥng, nhưng cũng lọt được vào bên trong 13 tên đặc công Việt cộng. Cả khu vực thương mại Chợ Lớn ch́m trong biển lữa. Đặc biệt tại cố đô Huế, chúng đă chiếm đóng 25 ngày đêm trong đại nội. Chúng tha hồ bắn giết người dân lành một cách vô tội vạ. Những tên Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, là những tên đồ tể man rợ của xứ Huế, đă để lại một vết nhơ trong lịch sử đất Thần kinh, mà muôn đời không rửa sạch được, dù có tát cạn nước biển đông. Tội của chúng th́ không bút mực nào tả hết, và dù có chặt hết cây rừng cũng không ghi hết tội.
Để đương đầu với đại hiểm họa một mất một c̣n này của đất nước, Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa phải tức khắc ban hành lệnh Tổng động viên, huy động toàn quân, toàn dân ra tiền tuyến. Thật ra tiền tuyến và hậu phương bây giờ đă là một, lằn ranh không c̣n nữa, đă bị xóa đi từ cái đêm mồng một Tết năm Mậu Thân khi Cộng quân dồng loạt mở cuộc tổng tấn công trên khắp 44 tỉnh và thành phố của VNCH. Là một người lính trừ bị, "động vi binh, tịnh vi dân", tôi lại phải "Áo nhung trao quan vũ từ đây". Tôi lên đường tŕnh diện tái ngũ sớm. Và chỉ trong một ngày, từ một thư sinh yếu đuối, nếu không muốn nói "trói gà không chặt", tôi đă khoác lên người bộ quân phục rằn ri, với chiếc mũ nồi màu nâu. Tôi đă trở thành người lính Biệt động của Binh chủng Biệt Động Quân oai hùng. Ở trường hợp của tôi, "chiếc áo cà sa đă làm cho tôi trở thành thầy tu". Tôi được đưa về phục vụ tại Tiểu đoàn 34/BĐQ đồn trú tại Lộc Giang, quận Trảng Bàng thuộc tỉnh Hậu Nghĩa. Tôi tŕnh diện Thiếu tá Xiếng, Tiểu đoàn trưởng. Thấy tôi với nét mặt c̣n phảng phất đôi chút thư sinh, thể chất yếu đuối, không được rắn chắc oai hùng như một người lính Biệt Động thật thụ, ông nói:
- Tôi biết anh từng làm Đại đội trưởng lâu năm, từ hồi c̣n Chuẩn úy. Nhưng Biệt Động Quân khác Bộ Binh. Chiến thuật mỗi binh chủng có sự khác biệt. Anh cần một thời gian học hỏi chiến thuật mới của binh chủng thiện chiến này. Anh sẽ đi theo quan sát các Đại đội.
Đầu tiên tôi theo Đại đội 4 của Đại úy Mạnh, (khóa 20 Vơ bị Đà Lạt). Sau một thời gian ngắn, tôi đi theo Đại đội 3 của Đại úy Nhơn, khóa 17 Vơ bị Đà Lạt - Được biết Đại úy Nhơn tử trận tại Quảng Trị khi được thuyên chuyển ra Vùng 1, làm Tiểu đoàn trưởng 37/BĐQ, đươc truy thăng cố Trung tá - Tôi đi làm "cố vấn" cho các đại đội của Tiểu đoàn 34/BĐQ một thời gian th́ được lệnh thuyên chuyển đi Tiểu đoàn 31/BĐQ, đồn trú ở tỉnh Phước Long, để làm Đại đội trưởng. Có lẽ tôi đă hấp thụ được mười thành công lực nên sư phụ, Thiếu tá Xiếng hay Liên đoàn trưởng Liên đoàn 3/BĐQ, Trung tá Phạm Văn Phúc cho xuống núi.
Tôi hăm hở mừng vui xuống núi với ước mong đem tài học của ḿnh giúp đời, giúp người. Thật ra th́ không phải tôi xuống núi mà là lên núi. Từ giă vùng đồng bằng tỉnh Hậu Nghĩa để lên vùng núi non trùng trùng điệp điệp của tỉnh Phước Long, nơi có ngọn núi cao ngất và nổi tiếng là núi Bà Rá. Vào thời Pháp thuộc, đây là nơi đày ải các chính trị phạm, những người Việt Nam yêu nước chống Pháp, hay những phần tử khủng bố cộng sản. Bà Rá là nơi rừng thiêng nước độc. Ngày đi th́ có, ngày về th́ không.
Lúc bấy giờ là đầu Xuân năm 1968, Bắc quân phối hợp với bọn Việt cộng đang trên đà thắng thế, nhờ đạt được yếu tố bất ngờ khi ngang nhiên vi phạm cuộc hưu chiến hằng năm để nhân dân hai miền Nam Bắc hưởng Tết vui Xuân. Chúng đă bất ngờ đồng loạt nổ súng tấn công sau bài thơ chúc Tết của lăo Hồ đọc trên đài phát thanh Hà Nội, được đài phát thanh của Mặt trận Nguyễn Hữu Thọ tiếp vận. Bài thơ là lệnh tấn công của lăo Hồ:
"Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà.
....
Tiến lên thắng lợi ắt về ta."
Trong lúc phe ta lo vui Xuân hưởng Tết, chỉ để lại một nửa thực lực hay ít hơn pḥng thủ đơn vị. Chính Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu cũng đang về quê vợ ở Mỹ Tho ăn Tết. May mà Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ c̣n ở Saigon. Nhưng nếu quê hương Sơn Tây của ông ấy nằm ở miền Nam, th́ có lẽ ông cũng đă về đó để đá gà thưởng Xuân. Trong những giờ phút đầu tiên của trận chiến, Phó Tổng Thống Kỳ đă tỏ ra xuất sắc trong cương vị của một lănh tụ quốc gia. Những trận đánh dữ dội, long trời lở đất đă diễn ra trên khắp các đô thị Miền Nam. Các đơn vị QLVNCH lập tức được điều động về giữ thành, giữ dân, nên các vùng xa bị bỏ ngỏ, nhất là vùng rừng núi. Đường sá giao thông bị tắc nghẽn. Việt cộng đắp mô, đóng chốt khắp nơi. Phương tiện di chuyển độc nhất lên Phước Long trong thời gian này là đường hàng không. Tôi đến Phước Long trong t́nh trạng đó. Vừa bước xuống máy bay là phải chạy ngay ra hầm trú để tránh đạn pháo kích của Việt côïng.
Phước Long, một tỉnh vùng cao thuộc Vùng 3 Chiến thuật, giáp ranh với Vùng 2 Cao nguyên. Đây là miền đất trù phú. Đất rộng, người thưa. Người dân địa phương chuyên sống về nghề làm rẫy, và nghề trồng cây công nghiệp như cà phê và cao su. Họ phần lớn thuộc dân miền ngoài, từ các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Nam và Quảng Ngăi. Họ đến đây lập nghiệp do lời kêu gọi di dân khẩn hoang từ thời Đệ Nhất Côïng Ḥa. Tất cả họ đều là những người nghèo khổ. Tại quê nhà họ không có đất để canh tác, chỉ đi làm mướn. Quần quật từ sáng tinh mơ đến chiều tối vẫn không đủ ăn v́ đất hẹp người đông. Hưởng ứng lời kêu gọi, họ đă nhanh chóng tự nguyện đến đây khẩn hoang lập ấp, với sự trợ giúp thiết thực trong buổi ban đầu của chính phủ. Chẳng mấy chốc, họ đă có cái ăn, cái mặc. Cuộc sống của họ trở nên sung túc, nếu không muốn nói là giàu có. Đây là một chính sách đầy tính nhân đạo và thiết thực của Chính phủ Vịệt Nam thời Đệ I Cộng Ḥa. Trái lại bọn cộng sản th́ đem con bỏ chợ. Chúng lùa đi hàng trăm, hàng ngh́n "dân ngụy" hay vợ con gia đ́nh "ngụy quân, ngụy quyền", ép buộc họ bỏ lại nhà cửa và sản nghiệp để đi vùng "kinh tế mới". Tức là phải từ bỏ cái tốt đi t́m cái xấu theo chính sách của đảng là bần cùng hóa nhân dân, khi chúng xâm chiếm Miền Nam, mà thực chất là để đày ải và trả thù.
Tiểu đoàn trưởng TĐ31/BĐQ lúc bấy giờ là Đại úy Đào Trọng Vượng. Ông người nhỏ con, không oai phong lẫm liệt như binh chủng đ̣i hỏi. Nhưng ông rất nghiêm. Ông thích hát nhạc Trịnh Công Sơn. Có lẽ bài ông thích nhất là "Gia tài của mẹ". Chẳng thế mà cứ sau mỗi bữa cơm chiều, ông bắt tất cả sĩ quan ngồi trong bàn ăn phải hát: "Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ thằng Tây ..." H́nh như đó là một thông lệ, và đă trở thành thói quen.
Tŕnh diện Đại úy Tiểu đoàn trưởng xong, tôi được đưa ra Đại đội 3 của Đại úy Bùi Văn Bé để chuẩn bị bàn giao chức vụ Đại đội trưởng, như tờ Sự vụ lệnh của Liên đoàn 3 ghi "Bổ sung chức vụ Đại đội trưởng", do Trung tá Phạm Văn Phúc kư. Đại úy Bé sẽ về Tiểu đoàn làm Sĩ quan Hành quân kiêm Huấn luyện. (Được biết Đại úy Bé về sau thuyên chuyển qua Địa Phương Quân, lên Thiếu tá làm Tiểu đoàn trưởng một Tiểu đoàn tại Bến Lức, Long An. Ông là người bắt chận đoàn xe buôn lậu "c̣i hụ Long An". Tuy là người có công lớn, rốt cuộc biến thành người có tội và bị giáng cấp xuống làm Binh Nh́. Ngày xưa cụ Nguyễn Công Trứ đang làm Tướng bị vua Tự Đức giáng xuống làm lính, khi gặp người bạn hỏi, cụ vẫn tươi cười trả lời: "Khi làm Tướng không lấy làm vinh th́ lúc làm lính không lấy làm nhục". Nhưng ngày nay Thiếu tá Bé hẳn không có được cái tâm trạng đó. Chắc chắn ông phải uất ức khi thấy đời sao quá phi lư và bất công!).
Đại đội phó của Bé lúc bấy giờ là Thiếu úy Nguyễn Văn Học. Chỉ mới lần đầu gặp gỡ, t́nh thân đă đến với chúng tôi. Chúng tôi coi nhau như anh em. Bà xă của Học cùng cháu trai đầu ḷng độ ba tuổi đi theo đơn vị - lính thú đời nay hạnh phúc hơn lính thú đời xưa, được mang theo vợ con, và ít khi phải gặp cảnh "Đông ăn măng trúc, Xuân ăn giá...". Chúng tôi cùng ăn cơm chung. Một kỷ niệm khó quên là mỗi lần cơm nấu xong, vợ chồng Học bảo cháu trai đi mời, hôm nào thằng cu nhớ lời bố mẹ dặn, phải nói năng lịch sự th́ cháu nói mời bác xuống "xi mâm" (xơi cơm), hôm nào mê chơi th́ chỉ nhớ mời bác "năng mâm" (ăn cơm) mà thôi. Hai chữ "năng mâm" tôi vẫn nhớ hoài và liên tưởng đến những kỷ niệm khó quên lúc mới vừa đến Phước Long.
Đúng "Huynh Đệ Chi Binh là đó anh Hai". Học định cư tại Nam Cali, đang làm Chủ bút Tập San BĐQ.
Sau một tuần lễ làm quen với Đại đội, coi như thực tập, chuẩn bị bàn giao th́ Tiểu đoàn đưa xuống Đại úy Mạnh, chỉ định Mạnh làm Đại đội trưởng, c̣n tôi xuống làm Đại đội phó. Đại đội phó Học xuống làm trung đội trưởng! Tôi đă biết Mạnh hồi ở Tiểu đoàn 34/BĐQ. Lúc mới tái ngũ ra đơn vị, tôi có đi theo Đại đội của Mạnh một thời gian. Bây giờ "lệnh lạc" đổi khác. Là quân nhân tôi phải thi hành lệnh. Đúng ra tôi có quyền rời Tiểu đoàn về tŕnh diện Liên đoàn, để có thể thuyên chuyển đi đơn vị khác. Nhưng tính tôi ưa an phận. Có một điều trớ trêu, khá nghịch lư là Đại đội 1 do Đại úy Khánh làm Đại đội trưởng. Nay Khánh về làm Tiểu đoàn phó, Đại đội phó là một Chuẩn úy, được Tiểu đoàn trưởng cho mang lon Trung úy (chúng tôi gọi là Trung úy Tiểu đoàn, không có trong ngạch trật của QLVNCH) để làm Đại đội trưởng.
Công vịệc của Đại đội phó th́ rất nhàn hạ. Đêm đêm dẫn hai Trung đội đi phục kích, có khi là một Trung đội tăng cường. Ban ngày th́ ngủ hoặc ra phố chợ chơi. Tỉnh lỵ Phước Long quá nhỏ và nghèo nàn. Chỉ đi "dăm ba phút" là hết, giống như lời của môt bài hát "Em Pleiku má đỏ môi hồng". Chính trong thời gian rảnh rỗi này, tôi đă có dịp nhiều lần ra nhà lồng chợ ăn uống. Tôi thích nhất ở đây là gánh bún ḅ của một bà cụ người Huế. Tôi đă có dịp ngồi ăn tại gánh bún này. Đúng là "tha hương ngộ cố tri". Được gặp bà cụ Huế, một người đồng hương, được nghe giọng nói Huế, được ăn bún ḅ Huế, do chính người Huế nấu th́ không ǵ thích thú bằng. Tôi không nhớ hồi c̣n đi học ở Huế, tôi đă có dịp nào ăn bún ḅ "Mụ Rớt" chưa - Bún ḅ Mụ Rớt nổi tiếng đất Thần kinh.
Bún ḅ là một đặc sản của người Huế. Ai đến Huế mà chưa một lần ăn bún ḅ Huế là coi như chưa đến Huế. Ngày nay bún ḅ không c̣n là đặc sản của riêng người Huế mà là của người Việt tại Hải ngoại. Ở đâu trên quê hương hải ngoại này có người Việt định cư là ở đó có bún ḅ. Bún ḅ đă đi vào từng gia đ́nh của người Việt tỵ nạn. Muốn ăn tô bún ḅ đúng nghĩa bún ḅ th́ phải ăn bún ḅ tại Huế, do chính người Huế nấu trong khung cảnh một buổi sáng mùa Đông. Bên ngoài th́ trời mưa lất phất như mưa phùn đất Bắc. Thời tiết th́ lạnh, vừa đủ lạnh để mặc áo ấm, và khi nói hay thở th́ một làn khói bay ra từ miệng. Nếu đó là miệng có đôi môi xinh xắn của cô gái Huế th́ thật tuyệt vời, với những tiếng mô răng tê rứa rất là dễ thương, nghe như một lời thơ. Gánh bún ḅ hay quày bún ḅ với ḷ lửa liu riu. Nồi nước xúp bốc khói. Trên mặt đọng lại một lớp váng mỏng đủ màu sắc, nhưng nhiều nhất là màu hồng của ớt. Những cục xương gị, những tép sả, những miếng huyết...nhào lên, lặn xuống theo nhịp sôi của nồi xúp.Trên bàn bày các thứ gia vi nào tiêu, muối, ớt, nào nước mắm, nước tương, nào bắp chuối thái mỏng, nào rau thơm. Nhưng không có giá sống. Giá sống mà ăn chung với bún ḅ th́ đó không phải là tô bún ḅ chính hiệu. Bún th́ phải dùng loại bún sợi to gần bằng đầu mút đũa, trắng và dẻo. Đặc biệt phải có một chén tương ớt kiểu Huế. Ăn bún ḅ mà thiếu loại tương ớt này th́ mất ngon. Ăn bún ḅ phải cay, phải hít hà, phải chảy nước mắt mới là cách ăn bún ḅ sành điệu. Điệu Huế!
Ngay trong lần ăn bún ḅ đầu tiên tại gánh bún của bà cụ Huế, hai bà cháu đă có dịp nhắc lại những câu chuyện về Huế, về quê hương nghèo khó, mùa Đông thiếu áo, mùa Hè xót xa. Trời hành cơn lụt mỗi năm. Ăn xong bà cụ c̣n cắt cho một khoanh mít mật thật ngon để tráng miệng. Đến khi ăn xong, tôi trả tiền th́ bà cụ la rầy:
- Tổ cha mi (bây giờ bà cụ không gọi tôi bằng Trung úy nửa mà bằng tiếng mi thân mật). Bộ tau (tao, tôi) không đủ tiền mời mi một đọi (tô) bún răng? Nhớ khi nào không bận hành quân ra đây mệ mời bún và mít. (Bà cụ đă đổi cách xưng từ tui (tôi) thành mệ thân mật. Bà cụ cũng cở tuổi Mệ Nội hay Mệ Ngoại tôi).
Một buổi chiều tôi đang ở tại doanh trại của Đại đội th́ ngưồi lính gác cổng vào báo cáo:
- Tŕnh Trung úy, có một cậu thanh niên tự xưng là người làng muốn gặp Trung úy. Hiện đang chờ trước cổng.
Tôi liền ra gặp th́ thấy một thanh niên độ tuổi hai mươi đứng chờ với một trái mít to tướng. Sau vài lời thăm hỏi th́ được biết cậu thanh niên là con trai lớn của một chú hàng xóm tại quê nhà, vẫn phụ giúp ông bà tôi cày cấy. Chú ấy biết tôi đóng quân ở đây, nên sai con mang trái mít (thổ sản nhà chú trồng) ra biếu. Gia đ́nh chú là một trong những gia đ́nh đầu tiên hưởng ứng cuộc vận động di dân khẩn hoang lập ấp vào định cư tại vùng đất màu mỡ này. Ban đầu chú ấy cũng nghi ngờ và không mấy tin tưởng. nhưng người trưởng ban vận động là một người D́ của tôi, chỗ thân t́nh, nên cũng cố thử một phen chớ mất mát ǵ. Nhà cửa vẫn để lại đó. Đồ đạc th́ cái nào không mang theo cứ việc bỏ lại có người giữ. Sau này nếu không thích có thể trở về. Phương tiện di chuyển có chính phủ lo, lại được trợ cấp trong thời gian đầu lập nghiệp. Trái lại, bọn Cộng sản Bắc Việt, sau khi thu tóm miền Nam vào tay chúng, những "ngụy dân", và gia đ́nh "ngụy quân, ngụy quyền" bị lùa đi vùng "kinh tế mới", mà thực chất chỉ là những trại tù, phải bỏ lại nhà cửa và sản nghiệp. Nếu ai chịu đựng không nổi mà trốn về thành phố th́ cũng không thể trở về căn nhà của ḿnh, v́ đă bị bọn cán bộ của chúng chiếm giữ. Những người này phải sống vất vưởng đầu đường xó chợ. Không có hộ khẩu, không xin được việc làm, đành phải đi ăn xin, hay làm những nghề đốn mạt trong xă hội. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ tại sao lực lượng cái bang, và thành phần chị em ta phát triễn mạnh sau ngày bọn Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam ngày 30/4/75.
Bây giờ gia đ́nh của chú ấy đă có cuộc sống sung túc. Không biết do đâu chú ấy biết tôi ở đây nên sai con ra thăm. Nhưng bi đát thay, sau này được biết toàn bộ gia đ́nh của chú đă chết thảm khi Cộng quân Bắc Việt mở cuộc tấn chiếm Phước Long, mở đầu cho những trận đánh lớn sau này, và đă dẫn đến sự tan ră hoàn toàn của QLVNCH, và Nước Việt Nam Cộng Ḥa bị xóa tên trên bản đồ thế giới.
Có chăng chỉ c̣n lại trong ḷng người dân tỵ nạn trên khắp năm châu, bốn bể, và trong ḷng người dân quốc nội c̣n yêu chuộng TỰ-DO, DÂN CHỦ, CÔNG-B̀NH, BÁC-ÁI.
Bảo Định, tháng 5, 2006