Xác Định Giá Trị (3)QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG H̉ATiến Sỹ Lewis SorleyTrần Đỗ Cung chuyển ngữ . . . . . PHẦN 6 .- MỘT CUỘC CHIẾN THẮNG LỢI Phương pháp áp dụng trong giai đoạn Abrams đă có kết quả tốt mặc dầu nhiều người không tin như vậy. Quân Mỹ đă lần hồi rút nên quân Việt đạt nhiều thành quả hơn. V́ chiếm được nhiều đất hơn nên đă thấy nhiều lính địch quy thuận hơn. Trong năm 1969 có 47,000 hàng binh cộng thêm 37,000 hồi chánh năm 1970. Mỗi Sư Đoàn Bắc Quân có 8,689 quân số. Như vậy th́ số đào ngũ của họ trong hai năm bằng chín Sư Đoàn. Đă đến chiến thắng mặc dầu vẫn phải đánh nhau là v́ Nam Việt đă đủ khả năng giữ vững chủ quyền và tự lực hành động với lời hứa yểm trợ của Hoa Kỳ như họ vẫn làm cho đồng minh tại Tây Đức và Nam Hàn. Ngay từ cuối năm 1969 John Paul Vann, một nhân vật chính của chương tŕnh b́nh định đă viết cho cựu Đại Sứ Henri Cabot Lodge như sau: “Tôi không cần thăm Hoa Thịnh Đốn hay Ba Lê như trước để t́m cách thay đổi chính sách Việt Nam. Tôi hài ḷng với chính sách hiện hữu. Tôi nghĩ rằng chúng ta đă đạt mục tiêu bỏ được số Mỹ tử vong sau 1972 và chiến phí (cuộc chiến sẽ c̣n kéo giài măi) sẽ giảm hẳn v́ được người Việt lo liệu với sự trợ giúp tiếp vận và tài chính của chúng ta”. Ngoài trách nhiệm chiến đấu thay vào quân Mỹ rút đi, Nam Việt c̣n phải đương đầu với nhiều thay đổi chính sách. Đại Tướng Abrams nói rơ là họ phải vượt qua các trở ngại mỗi ngày một khó hơn. Ông nhắc lại, “Chúng ta đă bắt đầu từ năm 1968,. Mục tiêu của chúng ta là đến 1974 họ phải quất nặng bọn VC để sau nữa sẽ đập cả bọn Việt Cộng lẫn quân Bắc Cộng tại miền Nam. Rồi họ phải nén chặt chúng lại, nén ba bốn lần. Như vậy chúng ta bắt đầu; trong một thời gian dài – ông ra dấu bằng tay – và phải kết thúc trong thời gian ngắn hơn nhiều”. “Và nếu cần truy cản Việt Cộng, Bắc Cộng hay giúp Cao Mên chẳng hạn th́ chúng ta cũng giúp tay vào. Tuy nhiên chúng ta cần hết sức cẩn thận không có sẽ bị trật đường rầy. Ta tránh làm như vậy v́ nó sẽ làm cho ta điên lên”. Sự thay đổi đường lối quan trọng nhất là loại bỏ dự tính giữ lại một lực lượng Mỹ lâu dài tại chỗ như thể ở Tây Âu hay Nam Hàn. Ông Thomas J. Barnes trở lại Việt Nam sau ba năm vắng mặt để làm việc trong chương tŕnh b́nh định vào mùa Thu 1971. Ông nói với Tướng Fred Weyand là “tôi đă ngạc nhiên với ba tiến bộ chính, sự phồn thịnh của nông thôn, Địa Phương và Nghĩa Quân giữ vững vị trí và phát triển sự tự trị chính trị kinh tế làng xă. Ta đă giúp làng xă lấy lại tính cách độc lập và tự lực theo tập tục Việt Nam. Đó là việc tham gia quan trọng nhất của chúng ta trong công việc b́nh định”. Ngay từ giữa tháng Ba 1971 quân đội Việt Nam đă gánh vác chiến đấu. Thuyết tŕnh viên đă nói với Đại Tướng Ewell rằng sự chú trọng của Tướng Abrams vào công tác b́nh định nay đă hầu như thành tựu 100% với các kế hoạch tương quan. Quân Mỹ đă gần như rời khỏi việc hành quân”. Những tin tức từ phía địch đă xác nhận thành quả. Trong một cuốn sách in bởi nhà Xuất Bản Thế Giới Hà Nôi, hai tác giả Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vơ đă viết, “cuối năm 1968 trong Nam Bộ các Ấp Chiến Đấu và những vùng xôi đậu đă bị quân đội Sài G̣n chiếm lại. Cuối 1968 chúng ta đă bị tổn thất nặng. Địch dồn lực lượng vào công tác b́nh định thôn quê gây cho chúng ta nhiều khó khăn trong hai năm 1969-1970. Từ khi quân Mỹ vào Việt Nam chúng ta chưa bao giờ gập nhiều vấn nạn như trong hai năm ấy. Các căn cứ của ta ở thôn quê bị suy nhược và vị trí co thắt lại. Quân ta bị tiêu diệt, không c̣n đất bám và phải qua đồn trú tại Cao Mên. Chúng ta trải qua một thời kỳ hết sức khó khăn trong những năm 1969-1970-1971. Kể từ giữa năm 1968 địch đă tập trung đánh phá các vùng giải phóng để tiêu diệt và đẩy chúng ta ra khỏi cứ địa”. Tháng Giêng 1972 Vann nói rằng “chưa bao giờ chúng ta phải tham chiến ít như bây giờ. Ngày nay thấy rơ các vùng quê phồn thịnh, đường xá khai thông, cầu kỳ mở lại và bạn có nhiều rủi ro hơn với cả đống Honda và Lambretta ngược xuôi. Chương tŕnh Việt Nam Hóa Chiến Tranh đă có kết quả ngoài tưởng tượng”. Đó là công đầu của Việt Nam Cộng Ḥa. PHẦN 7 .- TỔNG TẤN CÔNG PHỤC SINH 1972 Thành quả Việt-Nam-Hóa-Chiến-Tranh và việc b́nh định nông thôn khiến cho đối phương phải t́m một phương án khác. Đó là cuộc tấn công Phục Sinh. Douglass Pike viết: “Không c̣n là một cuôc chiến cách mạng nữa, và theo quan niệm của Vơ Nguyên Giáp th́ phải qua giai đoạn chiến tranh quy ước nhỏ giống như ở Triều Tiên”. Trong vài ngày về Mỹ John Paul Vann đă tŕnh bầy hiện t́nh Việt Nam trước một cử tọa giáo sư chọn lọc. “Họ dựa vào các giới chức dân cử xă ấp khi kinh tế tăng trưởng, an ninh tiến bộ và chiến tranh đă chuyển sang Cao Mên và Lào. Sự thực là 95% dân chúng muốn lưu giữ chính quyền hiện tại hơn là một chính phủ cộng sản hay một cơ cấu do bên kia đưa ra”. Theo lịch sử ghi chép của Quân Đội Nhân Dân th́ kế hoạch tấn công 1972 được chấp thuận bởi Ban Quân Ủy Trung Ương từ tháng Sáu 1971. Mục tiêu là chiến thắng vào năm 1972 làm cho quân Mỹ xâm lược phải thưong thảo trong thế yếu. Ông Pike diễn giải, “đó là một cuộc tấn công toàn diện với nhân lực, khí giới và tiếp vận quy mô. Vào giữa mùa Hè tất cả 14 Sư Đoàn Bắc Quân rời khỏi Bắc Việt. Chúng xử dụng nhiều thiếp giáp và đại pháo nặng hơn QLVNCH và đạn dược cũng không giới hạn”. Cuối tháng Ba 1972 địch tiến hành một cuộc xâm lăng cổ điển với 20 Sư Doàn và một trận chiến tàn bạo sắt máu đă xẩy ra. Ông Douglas Pike viết, “Cuộc tấn công được sửa soạn công phu đă bị bẻ gẫy v́ không yểm làm cho chúng không tập hợp được và v́ sư chống trả dũng cảm và kiên tŕ của quân Nam Việt. Bắc Quân và hệ thống giao thông của chúng đă bị triệt hạ nặng. Nhưng chính yếu là QLVNCH và cả Địa Phương Quân đă hiên ngang chống trả như chưa từng thấy”. Bắc Quân tổn hại 100,000 người trong số 200,000 xung trận và có lẽ 40,000 đă bị giết. Họ đă mất già nửa thiết giáp và đại pháo. Sẽ cần ba năm để hồi phục trước khi tấn công lại và Tướng Vơ Nguyên Giáp bay khỏi chức Tổng Tư Lệnh. Trái lại Nam Quân mất 8,000 tử vong, gần ba lần thương binh và vào khoảng 3,500 mất tích. Tướng Giáp đă tính sai và phải trả một giá đắt cho lỗi lầm ấy. Ông Pike kết luận: “Giáp đă ước sai ḷng quyết tâm và sự chống trả mănh liệt của Quân Nam Việt. Hắn sai lầm về sức đề kháng của QLVNCH”. Về sau nhiều người chỉ trích nói rằng Nam Quân đă đẩy lui được Bắc Quân nhờ có không yểm của Mỹ. Tướng Abrams đă phản ứng mạnh mẽ và nói với các cấp chỉ huy của ông rằng, “Tôi không tin là không có không trợ mọi việc đă giữ vững được. Tuy nhiên phải có những người Việt Nam đúng thẳng chiến đấu. Nếu họ không dũng cảm làm như vậy th́ đến mười lần không quân cũng không chận đứng được bọn cộng sản”. Bọn chỉ trích cũng triệt hạ QLVNCH cho rằng họ sống sót được là nhờ Quân Mỹ. Không một ai nhớ rằng 300,000 Quân Mỹ phải đóng ở Tây Đức là v́ người Đức không thể chống lại Nga Xô Viết hay nhóm Liên Minh Warsaw nếu không có Quân Mỹ. Họ cũng quên là 50,000 Quân Mỹ phải lưu lại Nam Hàn để giúp trong trường hợp bọn Bắc tấn công. Và không ai đă nghĩ rằng v́ Quân Mỹ hiện diện nên phải chê bai và chế riễu Quân Đội Tây Đức cũng như Nam Hàn. Chỉ có Nam Việt bị tách rời ra để bôi nhọ một cách bất công và ác độc mặc dầu chỉ được không trợ chớ không được Quân Lực Mỹ hỗ trợ như Đức hay Cao Ly. Quân Nam Việt đă thực sự đánh bại cuộc tấn công Phục Sinh 1972 với xương máu và ḷng quả cảm. Đại Tướng Abrams nói với Tổng Thống Thiệu rằng “nhờ khả năng bén nhậy của các cấp chỉ huy nên đă gặt hái thành quả và họ đă chứng tỏ đủ bản lĩnh đương đầu với cuộc thử thách. Những anh hùng bảo quốc Nam Việt đă giáng cho quân xâm lăng một đ̣n chí tử khiến cho chúng cần ba năm nữa mới có thể mở lại một cuộc tấn công quy mô”. Tuy nhiên trong khi ấy bao nhiêu thay đổi hệ trọng đă xẩy ra trên một b́nh diện rộng lớn hơn. QLVNCH đă trở thành một lá chắn thiện nghệ, nhanh nhẹn và quyết tâm cho xứ sở của họ. Tuy nhiên họ đă bị bôi nhọ bởi những luận điệu tiêu cực gồm cả vu khống của bọn phản đối Hoa Kỳ tham gia cuộc chiến hay ít nhất chính sự tham gia của cá nhân họ hay bọn thân cộng. Trái lại đă có bao nhiêu thành tích rơ ràng trên trân địa hồi cuối Xuân và trong mùa Hè 1972. PHẦN 8 .- BỎ RƠI Phần này bàn về t́nh h́nh sau khi Hiệp Định Paris được kư kết vào tháng Giêng 1973. Để dụ Việt Nam thỏa thuận điều mà họ cho là quá sai lầm khi cho Bắc Việt được để lại miền Nam một lực lượng lớn, Tổng Thống Nixon đă hứa với Tổng Thống Thiệu rằng nếu Bắc Việt bội ước và lại tấn công Nam Việt th́ Hoa Kỳ sẽ can thiệp mạnh mẽ để trừng phạt chúng. Và Nixon nói thêm, nếu chiến tranh trở lại, nước Mỹ cam kết thay thế các chiến cụ trên căn bản một đổi một theo như điều khoàn của Hiệp định Paris (chiến xa, trọng pháo vv). Sau nữa Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ kinh tế tài chánh cho Việt Nam. Thật ra, Hoa Kỳ đă bội ước tất cả các khoản kể ra. Trong khi ấy th́ Bắc Viễt đă nhận viện trợ không tiền khoáng hậu của các quan thầy. Theo một cuốn sử xuất bản tại Hà Nội năm 1994 th́ trong ṿng chin tháng sau khi kư kết Hiệp Định Paris, từ tháng Giêng đến tháng Chín 1973, Bắc Việt đă gửi tiếp tế vào Nam bằng bốn lần năm vừa qua. Dầu vậy con số c̣n nhỏ nhoi so với lượng chúng đưa vào Nam từ đầu 1974 cho đến ngày chấm dứt cuộc chiến năm 1975. Trong ṿng mười sáu tháng, theo tài liệu cộng sản, th́ bằng 1.6 lần quân viện trong cả mười ba năm. Nếu chính phủ Nam Việt không kư Hiệp Định th́ không những Hoa Kỳ sẽ đơn phương tính với bên kia mà Quốc Hội Mỹ cũng nhanh chóng cắt hết viện trợ. Mặt khác nếu Việt Nam chấp thuận Hiệp Định với hy vọng sẽ tiếp tục nhận viện trợ Mỹ th́ họ bắt buộc phải chấp nhận t́nh trạng Bắc Quân sẽ trú đóng một cách nguy hiểm trên lănh thổ. Nam Việt đă quyết định phương án thứ nh́, một tiên liệu quyết tử để thấy một cách đau đớn là phải chấp nhận cả hai việc tồi nhất, quân Bắc Việt trong lănh thổ và viện trợ Mỹ chấm dứt. Nguyên Tổng Trưởng Quốc Pḥng Melvin Laird giải thích hệ quả như sau. “Trong hai năm sau Hiệp Định, Nam Việt đă can đảm chống lại một cách đáng nể một địch quân được yểm trợ tối đa. Hoà đàm Bắc Nam vẫn tiếp tục cho đến ngày mà Quốc Hội cắt hẳn viện trợ vào năm 1975. Và Nam Việt nhanh chóng bị tràn ngập. Chúng ta đă tiết kiệm được khoảng 257 triệu mỗi năm và làm cho Nam Việt xụp đổ sau khi đă chiến đấu dũng mănh từ năm 1973 không có sư giúp đỡ của quân Mỹ. Nhiều người Mỹ không thích nghe rằng bọn độc tài Nga Xô và Trung Hoa đă tỏ ra đáng tin cậy hơn là nước Mỹ Dân Chủ. Nhưng đó là sự thật phũ phàng. Phóng viên William Tuohy đă nhiều năm phúc tŕnh cuộc chiến cho Washington Post viết, “một chuyện không tin được và không tha thứ được là một đại cường quốc đă bỏ rơi đồng minh yếu kém vào tay bọn Bắc Cộng. Nhưng chúng ta đă làm như vậy”. Binh sỹ Nam Việt can đảm chiến đấu cho đến khi viện trợ bị cắt dần dần rồi ngưng hẳn. Trong ṿng hai năm sau khi kư Hiệp Định Paris Nam Việt đă mất 59,000 quân tức là nhiều hơn số quân Mỹ tử trận trong mười năm. Nếu nghĩ rằng dân số Nam Việt chỉ bằng một phần mười Mỹ Quốc th́ ta thấy rằng sư thiệt hại hết sức thảm khốc và cường độ trận chiến đă cao như thế nào. Bà Merle Pribbenow nhấn mạnh rắng sự ghi nhận của Bắc Việt cho thấy trong 55 ngày cuối cùng họ đă phải đương đầu với một chiến cuộc hết sức gay go. Đó là một chiến tích đáng ghi cho Nam Việt khi họ biết là kết cục sẽ chắc chắn như thế nào. Đại Tướng Bắc Quân Lê Trọng Tấn đă ghi, “Trong giai đoạn cuối cùng Quân Y của chúng ta đă phải di tản và chữa chạy cho quá nhiều thương binh, 15 lần nhiều hơn trong trận chiến biên giới, 1.5 lần hơn trận Diện Biên Phủ và 2.5 lần nhiều hơn trong trận Hạ Lào”. Bà Pribbenow chiết tính là “Quân Đội Nhân Dân đă chịu tối thiểu từ 40,000 đến 50,000 thương binh và có thể c̣n nhiều hơn nữa, nghĩa là c̣n cao hơn tổng số tổn thất lúc QLVNCH xụp đổ theo nhận xét của các sử gia”. Đại Tá William LeGro đă ở lại DAO đến phút chót đă có một cái nh́n chính xác về sự việc. Ông nói: “Sự gỉảm quân viện Mỹ cho đến gần số không là lư do đưa đến sự xụp đổ cuối cùng”. Ông nói thêm, “Chúng ta đă làm một việc hết sức quái gở với người bạn Việt Nam”. Gần đến ngày cuối, ông Tom Polgar đứng đầu CIA Sài G̣n gửi một điện văn ngắn ngủi: “Kết quả quá rơ ràng v́ Nam Việt không thể sống sót nếu không có quân viện Mỹ trong khi khả năng chiến tranh của Bắc Việt vẫn giữ nguyên với sự trợ lực của Nga Xô Viết và Trung Cộng”. Sau chiến tranh t́nh h́nh trở nên quá đen tối như người ta sợ. Phóng viên Seith Adams của New York Times viết về hoàn cảnh Đông Nam Á một cách xác đáng và cảm động như sau. “Hơn một triệu người Nam Việt bỏ xứ. Khoảng 400,000 người bị đầy vào các trại cải tạo, một ít trong thời gian ngắn nhưng nhiều người đă bị giam giữ đến mười bẩy năm. Một triệu rưởi dân bị cưỡng bách đi các vùng ‘kinh tế mới là những nơi hoang dă trong hoàn cảnh đói kém và bệnh tật”. Cựu Đại Tá Việt Cộng Phạm Xuân Ẩn mô tả sự vỡ mộng của y với kết quả chiến thắng của cộng sản đă áp đặt như thế nào lên xứ sở. Ông ta phàn nàn, “tất cả các lư luận về ‘giải phóng’ trong hai mưoi, ba mươi hay bốn mươi năm qua đă gây ra một xứ sở nghèo nàn và rách nát lănh đạo bởi một lũ ác độc, một bọn lư thuyết gia ít học và chuyên chế”. Đại Tá Bắc Quân Bùi Tín cũng thẳng thắn nói về hậu quả cho cả những người chiến thắng: “Thật là quá chậm cho thế hệ tôi, một thế hệ của chiến tranh, của chiến thắng và bội phản. Chúng tôi đă thắng nhưng chúng tôi cũng đă thua”. Sư cố gắng của những người miền Nam trong một cuộc tranh đấu dai dẳng cuối cùng là một thảm trạng. Quân đội đă mất 275,000 người chết trong khi chiến đấu. 450,000 dân bi hy sinh, phần đông do khủng bố cộng sản hoặc bị chết trong những cuộc pháo kích bừa băi vào các đô thị và thêm 935,000 người nữa bị thương. Trong số cả triệu người trở thành thuyền nhân một số có thể rất cao đă bỏ mạng trên biển cả. Có lẽ 65,000 người đă bị hành quyết bởi bọn tự xưng là giải phóng. Khoảng 250,000 hay hơn nữa đă chết trong các trại tù “cải tạo” man rợ. Hai triệu người bị đẩy ra khỏi quê cha đất tổ để trở thành một diaspora Việt Nam. Ta không thể hoàn toàn xác định giá trị của QLVNCH mà không nói đến các cựu chiến binh bị đầy khỏi xứ với các gia đ́nh của họ hầu lập nghiệp lại trên đất Mỹ. Đó chính là một câu chuyện khác về sự can đảm, quyết tâm và thành quả. Đă biết quá rơ tính chất của bọn mạo danh là “giải phóng”, một băng đảng luôn luôn giết hại, gây thương tích, bắt cóc và ức chế hang ngàn dân vô tội, nên họ bỏ chạy hàng loạt khi sự chống đỡ tan ră. May thay nhiều người đă thoát được đến bờ bến tự do làm lại đời mới. Mỹ Quốc may mắn đón nhận một triệu di dân Việt Nam là một tăng tiến cho văn hóa và một đóng góp đáng kể vào phúc lợi của chúng ta. Với một quyết tâm và cần cù không tưởng tượng được, những người Mỹ mới này đă dậy dỗ con cái, nuôi sống gia đ́nh và lợi dụng các cơ hội mà xứ sở này đă dành cho bất cứ ai tham gia vào xă hội. Đó chính là những người đă bao năm đem xương máu ra chiến đấu cho quê hương cũ trong hàng ngũ QLVNCH. Chúng ta dă bỏ rơi họ và những hy sinh của họ đă thành vô nghĩa. Tuy nhiên cưu mang họ trên đất này đă cho chúng ta đền tội đôi phần. KẾT LUẬN Để kết luận, tôi chỉ xin nói rằng cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến giá trị, bởi người Nam Việt và các đồng minh của họ bảo vệ một mục đích cao đẹp. Tất cả các chiến binh đều đă tham chiến với một tấm ḷng vô biên và họ đă gần như đạt được mục đích bảo đảm cho NamViệt có tự do như một quốc gia độc lập. Có lần một phóng viên đă nhận xét rằng Đại Tướng Creighton Abrams phải được chỉ huy một cuộc chiến hay hơn. Tôi đă nói câu ấy cho trưởng nam của Tướng Abrahms và được phản hồi ngay; “Cha tôi không nh́n như vậy. Ông nghĩ rằng người Nam Việt rất xứng đáng”. Và tôi đồng ư. Tóm lại, đối chiếu biểu của QLVNCH bao gồm cả địa phương và nghĩa quân trong năm 1970 rất tích cực. Rốt cục chúng ta đă không thắng trận. Tuy nhiên tinh thần, sự tận tâm, can đảm và ḷng quyết chí của tất cả các chiến binh đă nẩy nở thăng hoa trên đất nước này. Chúng ta đều cùng tiến tới. NÓI VỀ TÁC GIẢ Ông Lewis Sorley đă phục vụ tại Việt Nam chỉ huy một Tiểu Đoàn Thiết Giáp trên Tây Nguyên. Ông thuộc thế hệ thứ ba trong gia đ́nh tốt nghiệp Đại Học Quân Sự Hoa Kỳ. Ông cũng đậu bằng Tiến Sỹ của Đại Học John Hopkins. Trong hai thập niên binh nghiệp ông chỉ huy thiết giáp và nhiều dơn vị thiết kị tại Mỹ, Đức cũng như Việt Nam. Ông cũng đă phục vụ tại Bộ Lục Quân, văn pḥng Tham Mưu Trưởng Bộ Binh và là giảng viên tại West Point và Đại Học Chiến Tranh Bộ Binh. Ông là tác giả của hai cuốn sách, Thunderbolt, General Creighton Abrams and the Army of His Times và General Harold K. Johnson and the Ethics of Command. Ông đă viết quân sử nhan đề, A Better War; the Unexamined Victory and Final Tragedy of America’s Last Year in Vietnam. Ông cũng ghi chép và nhuận chính Vietnam Chronicles: the Abrams Tapes 1968-1972”. Tài liệu tham chiếu:
|