Xác Định Giá Trị (2)

QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG H̉A

Tiến Sỹ Lewis Sorley

Trần Đỗ Cung chuyển ngữ


       . . . . .

       PHẦN BA.- ĐỊA PHƯƠNG QUÂN

       Sau vụ Tết Mậu Thân 1968 Bộ Tư Lệnh Mỹ thay đổi. Đại Tướng Creighton Abrams lên thay Đại Tướng Westmoreland và đổi quan niệm về cuộc chiến và phương pháp hành xử.  Tướng Abrams nhấn mạnh “chiến tranh toàn diện” gồm cả hành quân, b́nh định và gia tăng khả năng QLVNCH theo một quy tŕnh cấp bách ngang với chiến trận.

       Chiến thuật cũng thay đổi từ quan niệm “truy và diệt” qua “b́nh định và giữ đất”. Có nghĩa là khi địch bị đẩy ra khỏi vùng có dân th́ quân đội phải đóng lại chớ không rút đi cho địch trở lại.  Do đó Địa Phương Quân được phát triển tối đa để phụ trách an ninh và b́nh định lănh thổ.

       Trung Tướng Nguyễn Duy Hinh cho sự phát triển và nâng cao các lực lượng địa phương là việc làm quan trọng nhất của Mỹ.  Đại Tướng Ngô Quang Trưởng nhận định rằng kết quả b́nh định xă ấp, gia tăng số dân sống dưới chính quyền và an toàn giao thông là công của lực lượng địa phưong quân và nghĩa quân.  Tháng Năm 1967 khi Đại Tướng Abrams đến Việt Nam th́ quân lực VN gồm có Lục Quân, Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Không Quân.  Ngoài ra c̣n có những lực lượng diện địa bao gồm Địa Phương Quân và Nghĩa Quân phụ trách an ninh lănh thổ.  Tỉnh Trưởng chỉ huy Địa Phương Quân c̣n Nghĩa Quân đặt dưới quyền Quận Trưởng.  Các lực lượng này trú đóng tại địa phưong của họ và thực hiện mục tiêu “càn quét và giữ đất”.  Vào năm 1970 đă có 550,000 quân số, nghĩa là một nửa QLVNCH.

       Một trùng hợp, đêm hôm trước Bing West và một nhân vật nữa đă lên kênh PBS “Giờ tin tức với Jim Lehrer” để thảo luận về t́nh h́nh Iraq.  Một người đă nói đến quan niệm “càn quét và giữ vững” của Condoleza Rice.  Nếu ta t́m nguồn gốc quan niệm này th́ hẳn phải kể Lực Lượng Diện Địa Nam Việt, Đại Tướng Abrams, Đại Tướng Harold K. Johnson và bản nghiên cứu PROVN (chương tŕnh b́nh định và phát triển Nam Viêt) của Đại Tá Jasper Wilson.

       Ngay từ tháng Mười 1968 ông William Colby làm phụ tá Bính Định cho Tướng Abrams đă giải thích tầm quan trọng của các lực lượng ấy.  “Để bảo vệ an ninh lănh thổ chúng ta chú trọng đến tăng tiến Địa Phương và Nghĩa Quân, lên ngót một nửa toàn thể quân số. Chúng ta đă bắt đầu ngay từ tháng Mười vừa qua. Trong một buổi thuyết tŕnh Đại Tướng Abrams đă nhấn mạnh ba mươi điều phải làm trong đó có việc cử các toán nhỏ cố vấn quân sự đến các Đại Đội Địa Phương Quân và các Trung Đội Nghĩa Quân.  Ta đă có 250 toán năm người rải rác khắp mọi nơi”.

       Ba tháng sau ông Colby đă thấy sự tăng tiến nhanh chóng huấn luyện và vũ khí cho các đơn vị ĐPQ cũng như NQ.  “Đă có 91,000 binh sỹ nhiều hơn năm ngoái.  Khoảng 100,000 người đă được trang bị súng M-16 và 350 toán cố vấn đă sống và làm việc với các đơn vị ĐPQ và NQ”.  Ngay khi lănh chức Tư Lệnh Đại Tướng Abrams đă thẳng thừng chuyển các súng mới cho họ.  Ông nói trong bài thuyết tŕnh tháng Tám 1968, “Trong một năm ĐPQ và NQ được ưu tiên hàng đầu và nhận súng M-16 trước cả Lục Quân.  Cũng như mọi việc, tôi đă bỏ vào quỹ-tiết-kiệm-lính với lăi xuất 10 phân. Trời Đất ơi, chúng ta đă đầu tư vào đây và đó là việc phải làm, ưu tiên tối đa trên tất cả mọi thứ”!

       ĐPQ và NQ gia tăng khả năng và thành tích của họ và phải được ghi công đầu.  Trong buổi thuyết tŕnh WIEU (dự đoán t́nh báo hàng tuần) cho quan khách Tướng Abrams nói, “Điều tôi quan tâm nhất là vai tṛ của ĐPQ và NQ trong chiến cuộc luôn bị quên lăng.  Người ta chỉ thường nói đến QLVNCH trong khi đă lâu nay ĐPQ và NQ gánh chịu nhiều tổn thất và đă giáng cho quân địch nhiều đ̣n chí tử.  Tôi nói thẳng, nếu ta muốn nói đến an ninh cho dân th́ đây mới là phần việc lớn”!

       Cùng một lúc, ông nói rơ ràng về thành tích của các đơn vị này.  “Tôi không biết có nên trang bị thêm các đại đội Lục Quân không.  Nếu có thêm nhân số th́ tôi nghĩ đem đầu tư vào các lực lượng diện địa này có lợi hơn”.  Cuối năm 1969, khi nh́n biểu đồ t́nh h́nh trong ba tháng vừa qua ghi rơ ai đă đem lại nhiều thành quả nhất về khí giới, tử vong, Tướng Abrams đă nói: “Thật rơ ràng và đúng.  Số địch bị giết, khí giới thu được, hầm bí mật phát hiện, vv, th́ QĐVNCH vẫn giữ nguyên tỷ lệ 27/28% trong khi tỷ lệ của Đồng Minh sút giảm.  Sự chênh lệch là do các lực lượng địa phương và đă xẩy ra từ tháng Tám vừa qua”.

       Một người trong cừ tọa nói lớn, “Đó là tính chất của cuộc chiến”!.

       Tướng Abrams trả lời ngay, “Đúng lắm!  Tôi luôn luôn hỏi lợi nhuận thu được từ 100,000 súng M-16 như thế nào?  Như vậy hả?  Vâng ta đă bắt đầu thấy kết quả”!

       Ông Bill Colby cũng nhận xét rằng trong tháng Bẩy 1970 lực lượng địa phương cũng bảo vệ được súng của ḿnh.  Tỷ lệ khí giới mất đối chiếu với vũ khí thu được là một trên ba, khác hẳn t́nh trạng năm năm trước đây.

       Tướng Abrams nói thêm: “Các Lực Lượng Địa Phưong, các con sóc ấy tiến tới rất vững vàng.  Một t́nh trạng đă được duy tŕ lâu nay là ĐPQ và NQ đă gánh chịu phần lớn trách nhiệm chiến tranh”.

       Các sỹ quan cao cấp Việt Nam cũng nh́n nhận như Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, “Các ĐPQ và NQ đă lần hồi gỡ bỏ mặc cảm của một phụ lực quân để trở thành các binh sỹ chính quy và là một bộ phận chính của bộ máy chiến tranh”!  ĐPQ tăng tiến về phẩm cũng như lượng đă được các nhân vật b́nh luận khắt khe như Tướng Julian Ewell khen tặng, “Họ là mũi nhọn trên chiến trường”!

       PHẦN 4 .- NHỮNG VẤN ĐỀ NHỨC NHỐI

       Có ba vấn đề luôn luôn khó khăn cho QLVNCH trong suốt chiến tranh là, thiếu cán bộ lănh đạo giỏi, t́nh trạng tham nhũng lan rộng và đào ngũ.  Có lănh đạo với đầy đủ khả năng chỉ huy là một vấn nạn cho QLVNCH trong suốt cuôc chiến.  Với sự gia tăng quân số đến 1.1 triệu người t́nh trạng lại càng trầm trọng hơn.  Sự thất thoát cấp chỉ huy của các đơn vị nhỏ lại càng làm cho vấn đề tệ hại khi quân số gia tăng.

       Công việc huấn luyện và các kế sách tuyển mộ các chỉ huy mới rồi đôn họ lên theo chiến tích thật là nhọc nhằn và khó khăn.  Sau chiến dịch Lam Son 719, Đại Tướng Abrams tham dự một cuộc duyệt binh tại Huế đă nói, “Thật là một việc đáng ghi.  Họ đôn quân, HSQ được thăng lên, HSQ lên thành Chuẩn Úy, Chuẩn Úy lên Thiếu Úy.  Tổng Thống Thiệu tuyên bố rằng đó là việc nhỏ với 5,000 thăng cấp, mà thăng cấp mặt trận”.

       Tướng Abrams rất thích: “Đó là chuyện đă xẩy ra ở Lào.  Không có cách ǵ tốt hơn trong quân đội là đi vào hàng ngũ lựa chọn những phần tử chiến tích thích đáng mà đôn lên”.  (Cũng như vậy đối với các viên chức tại Trung Tâm Huấn Luyện Vũng Tàu hầu giúp họ tăng tiến khả năng quản trị và lănh đạo trong công việc).

       Vài vị chỉ huy Việt Nam đă không ngớt chỉ trích khả năng lănh đạo của ḿnh.  Đại Tướng Cao Văn Viên đă viết trong cuốn sách của ông như sau, “Trong thời gian tôi phục vụ ở cương vị Tổng Tham Mưu Trưởng tôi đă chứng kiến sự thành công cũng như thất bại của khả năng lănh đạo của chúng ta.  Mặc dầu chúng ta đă cố gắng tối đa nhưng vẫn không đủ trong hoàn cảnh khó khăn của đất nước”.

       Sự đào ngũ trong các sư đoàn là một căn bệnh trầm trọng của QLVNCH.  Tuy nhiên không phải đào ngũ theo phe đich nhưng phần lớn là để tránh ra trận hay để về nhà.  Đó là một việc khác hẳn phía địch khi phần đông những đào binh quay về hàng ngũ quân ta.  Trái lại đào binh ta thường trở lại ngũ tại địa phương.  Theo Anthony Joes đó là sự hoán chuyển từ quân đội chính quy về địa phưong quân mà tỷ lệ đào ngũ gần như không có mặc dầu số tử vong cao hơn quân chính quy.

       Tham nhũng là một nhược điểm nữa không bao giờ gột tẩy được mặc dầu ảnh hưởng lên chiến cuộc không mấy quan trọng như ngưới ta thường kêu la.  Tuy nhiên Đại Tướng Cao Văn Viên đă kết luận như sau. “tham nhũng không phải yếu tố đưa đến sự xụp đổ của chế độ nhưng chắc chắn nó gây ảnh hưởng tệ hại đến tŕnh độ binh nghiệp và như vậy làm suy nhược khả năng chiến đấu”.

       Ông Tom Polgar của CIA nhận định xác đáng rằng tham nhũng không thể lật đổ một quốc gia cũng như trường hợp Phi Luật Tân, Nam Hàn hay Thái Lan.  “Nước nào mà không trả công tương xứng cho viên chức đều có tham nhũng, đó là một quy luật.  Tuy nhiên tham nhũng ḅn rút hết tiêm lực quốc gia khi có ngoại xâm”.

       Đại Tá William LeGro đă ở lại đến những ngày cuối cùng với DAO (Cơ Quan Tùy Viên Quốc Pḥng) đồng ư.  Ông nói: “Tham nhũng không làm cho sụp đổ.  Sự giảm thiểu viện trợ Hoa Kỳ đến con số không là đáp số”.  Ông ta nói thêm: “Chúng ta đă đối xử một cách xấu xa bỉ ổi với bạn Việt Nam của chúng ta”.

      . . . . .

       PHẦN 5 .- LAM SƠN 719

       Rơ ràng người ta đă cho rằng chiến dịch Lam Son 719 vào Hạ Lào là một thảm bại cho Nam Việt.  Tuy nhiên sự thật khác hẳn, v́ hiện nay với băng ghi Abrams và các nguồn tin khác đă cho biết là quân Bắc Việt thiệt hại nặng khiến cho chúng mất trớn tổng tấn công miền Nam để ta có th́ giờ kiện toàn Việt-Nam-Hóa-Chiến-Tranh.

       Trong tài liệu WIEU (cập nhật hằng tuần t́nh báo) ngày 30 tháng Giêng ta thấy địch quân biết đôi chút về hành quân vượt biên giới của ta.  Tám ngày trước khi cuộc hành quân khởi diễn, COMINT (t́nh báo vô tuyến) nhận thấy địch quan tâm đến các hoạt động phía ta tại vùng 1 và những khu vực lân cận Hạ Lào.  Đă phát hiện các truyền tin của địch từ ngày 24 tháng Giêng để ư đến “quân ta có thể đánh qua biên giới phá trục tiếp vận của chúng”.  Cũng có tin tức là địch hết sức lo cuộc đổ bộ vào Bắc Việt và sư xâm nhập Lào từ những chiến hạm ngoài khơi, vv.

       Ngày 8 tháng Hai các đơn vị QLVNCH vượt biên vào Lào trên trục lộ 9 với thiết giáp, nhẩy dù, biệt động, thủy quân lục chiến và lục quân.  Tổng số 10,000 quân đă nhập đất Lào vào cuối tuần.  Cùng lúc, 10,600 quân tiến vào Cao Mên.  Khi Đô Đốc McCain Tư Lệnh Thái B́nh Dương (CINPAC) dự thuyết tŕnh ngày 19 tháng Hai th́ được biết các đụng độ khá cao ở cấp Đại Đội và nhiều trận lẻ tẻ đă diễn ra trên khắp chiến trường.  MACV theo rơi sáu tiểu đoàn địch đương đầu QĐVN tại Lào.  Quân Đội Mỹ không được phép tham dự nhưng sư yểm trợ của không lực Mỹ đă mất 21 trực thăng trong 7,000 phi xuất (tổng số thất thoát trong chiến dịch là 108 nghĩa là 21 cho 100,000 phi xuất).

       Trung Tướng William E. Potts của MCV J-2 đă tóm lược cho Đô Đốc McCain như sau: “Điểm đáng ghi nhận là trong chiến dịch Lam Son, địch quân đă đua ra tất cả những ǵ chúng hiện có hoặc đang gửi đến ngoại trừ Sư Đoàn 325 và Tiểu Đoàn 9 thuộc Sư Đoàn 304.  Vậy nếu chúng bị thiệt hại th́ chúng sẽ tụt hậu trong một thời gian khá lâu”. Tướng Abrams nói thêm, “Lẽ cố nhiên chúng ta mong đón tất cả bọn chúng với toàn thể sức mạnh của chúng ta”. .

       Dầu vậy, đến ngày 20 tháng Hai, nghĩa là gần hai tuần sau chỉ có sáu Trung Đoàn địch hiện diện trong chiến dịch Lam Sơn.  Thuyết tŕnh viên nói trong buổi họp chỉ huy WIEU (dự đoán t́nh báo hàng tuần) ngày hôm ấy là, “thật vậy sự phản công mạnh mẽ của địch đă xẩy ra đêm 18 tháng Hai.  Phía ta có một lực lượng tương đương với 18 tiểu đoàn vẩn tiếp tục t́m địch thanh toán”.

       Đại Tướng Abrams nhấn mạnh với ban Tham Mưu và các cấp chỉ huy của ông là phải cho quân Việt Nam mọi phương tiện cần thiết để họ chiến thắng trong trận hệ trọng này.  “Đây là một dịp dể giáng cho địch một vố ta chưa bao giờ làm được”.  Ông nhấn mạnh hết sức ư nghĩa khi Hoa Thịnh Đốn đưa ra một vài chỉ trích: “Ai cũng biết cái rủi ro từ lúc đầu nhưng ta thấy là đă đến lúc phải chấp nhận rủi ro”.  Khi qua Hoa Thịnh Đốn Đại Sứ Bunker đă tŕnh bầy tất cả các khía cạnh tương quan.

       Cho đến ngày 24 tháng Hai MACV vẫn theo dơi sáu Trung đoàn địch (tăng lên thành bẩy ba ngày sau) trong chiến dịch Hạ Lào.  Trong tường tŕnh cho Tướng Abrams, thuyết tŕnh viên đă nói rằng bốn tiểu đoàn trong số 18 cung cấp cho Trung Đoàn địch h́nh như đă bị tê liệt.  Cũng trong ngày ấy số tử thương của địch quân được ước lượng là 2,191 người trong khi quân bạn mất 276 mạng.

       Đến dây th́ một khó khăn lớn xẩy ra là thiếu hụt trực thăng.  Mà Quốc Lộ 9, con đường chính Đông Tây có nhiều đoạn bị đào sâu lên đến cả sáu thước khiến cho việc xử dụng con lộ này hầu như bị gián đoạn.  Nhất là loại bồn chở xăng không thể đi qua được.  Bởi vậy phải tiếp tế bằng phi cơ, ảnh hưởng nặng nề lên đội ngũ trực thăng.  Sự tính toán điều hành và sửa chữa cấp bách đă xoay lại t́nh thế.  Cho nên khi Tướng Julian Ewell, một nhân vật không mấy thiện cảm với chiến dịch, đi thanh tra ông đă nói, “tỷ lệ sẵn sàng hành quân (operational readiness) ngày Chủ Nhật khi tôi đến thăm là 79%, một con số vượt bực”.

       Cùng lúc địch tung ra một trận tấn công lớn với thiếp giáp và tràn ngập cứ điểm 31 là nơi trú quân của Tiểu Đoàn của Sư Đoàn 1 VNCH.  Người ta đă ghi nhận địch có 350 quân bị giết và 15 thiết giáp bị phá hủy đối lại 13 quân bạn chết, 39 bị thương và ba thiết vận xa bị hư hại.

       Người ta nhận thấy ngày mồng 1 tháng Ba một Trung Đoàn địch nữa đă tham chiến nâng tổng số lên tám đơn vị (trong 24 tiểu đoàn có sáu đă bị tê liệt). Đại Tướng Abrams nói, “thật là một trận khủng khiếp”.  Trong buổi thuyết tŕnh cập nhật ngày 4 tháng Ba thuyết tŕnh viên đă nhắc lại rằng ngày 11 tháng Hai đă thấy dấu hiệu địch chuyển sang thế tấn công.  Tuy nhiên sự việc chỉ xẩy ra ngày 18.  Ta có thể nói là địch đă mất quân số vào khoảng bẩy tiểu đoàn chủ động, c̣n số thiết giáp của họ vào khoảng 100 chiếc lúc đầu th́ nay chỉ c̣n từ 65 đén 70 chiếc mà thôi.  Ở thời điểm này ta ước lượng địch quân có tại hiện trường 15,000 chiến binh cộng với từ 8,000 đến 10,000 quân hậu cần trong khi bên ta huy động mười sáu tiểu đoàn chủ động.

       Khi một tù binh thuộc Trung Đoàn 24-B khai rơ sự tộn thất nặng nề trên đường 92 về phía Bắc Bản Đông th́ pḥng J-2 MACV giảm hiệu lực của địch đi hai Tiểu Đoàn, nghĩa là trong số 30 Tiểu Đoàn địch thuộc 10 Trung Đoàn tung ra trên chiến trường đương đầu với quân VN th́ chúng đă mất hẳn 10 Tiểu Đoàn.  Tướng Abrams nói, “Tôi càng tin chắc rằng đây có thể là trận quyết định chiến cuộc”. Tướng Potts nói thêm, “Họ mất một nửa chiến xa, một nửa đại bác pḥng không và 10 trên 30 Tiểu Đoàn”.

       Trong một buổi cập nhật t́nh báo hàng tuần (WIEU) ngày 20 tháng Ba Đại Sứ Bunker nói Chiến Dịch Lam Sơn đang chấm dứt là một cuộc hành quân rất thích ứng.  Tướng Abrams bèn trả lời: “Thật là một trận đánh cam go.  Tuy nhiên ảnh hưởng lên phần cuối năm nay hết sức to lớn.  Chúng đă tung nhiều lực vào Lam Sơn và đă bị thua đậm

       Ngày 23 tháng Ba khi địch quân tung vào thêm Trung Đoàn thứ mười ba, thuyết tŕnh viên tŕnh bầy rằng chín trong số mười một Trung Đoàn đă bị thiệt hại nặng nghĩa là họ chỉ c̣n khoảng 17 Tiểu Đoàn chủ động trong số 33 đem ra.  Ngoài ra họ lại c̣n mất khoảng 3,500 đơn vị hậu cần.  Khi các yếu tố dược tŕnh bầy trong kỳ WIEU th́ Tướng Potts nói thêm, “Không phải các Tiểu Đoàn ấy bị sút kém nhưng chúng đă bị hoàn toàn tiêu diệt”.

       Quân đội VNCH cũng chịu nhiều tổn thất, 1,416 bị giết và 714 mất tích.  Nhiều khí cụ đă bị phá hủy hay bỏ lại khi vội vă rút lui.  Khi xét lại kết quả, Đại Tướng Sutherland nhận định như sau: “Khuyết điểm từ lâu là Bộ Tham Mưu VN không có đủ khả năng thiết kế và phối hợp Không Lực cũng như phối hợp yểm trợ không địa.  Tuy nhiên họ dă học hỏi nhiều trong chiến dịch này”.

       Dân chúng hết sức ủng hộ trận Lam Sơn.  Khi Đức Ông Thompson tới viếng thăm hồi cuối tháng Ba người ta đă tŕnh bầy với ông kết quả cuộc thăm ḍ dư luận trong 36 tỉnh.  Kết quả cho thấy 92% đồng ư với các chiến dịch như Lam Sơn 719, 3% chống đối và phần c̣n lại không có ư kiến.  Kết quả cho thấy một phân xuất rất cao so với bất cứ lần thăm ḍ về bất cứ một vấn đề ǵ trước đây.

       QLVNCH đă chiến đấu trong 42 ngày liền tại Lào.  MACV tŕnh bầy khiêm tốn cho Bộ Trưởng Lục Quân Stanley Resor là Chiến Dịch Hạ Lào đă “thử thách QLVNCH trước một địch quân quyết tâm trong trận địa xuyên biên giới.  Chắc chắn là đă phá được đường tiếp vận của họ”. Ở Hoa Kỳ người ta kêu đó là một thảm bại của quân Việt.  Lẽ cố nhiên bộ máy tuyên truyền Hà Nội vội vă túm lấy cơ hội.

       Tuy nhiên Tướng Abrams nhận định là chiến dịch nhất định có lợi cho QLVNCH.  “Từ trước ta cứ tưởng rằng Bắc Việt có thể chiến thắng họ.  Chiến tranh chưa chấm dứt nhưng Bắc Việt bắt đầu thấy là họ phải đương đầu với một công việc khó hơn nhiều”.

       . . . .