Xác Định Giá Trị (1)

QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG H̉A

Tiến Sỹ Lewis Sorley

Trần Đỗ Cung chuyển ngữ


      Ban Biên Tập:   V́ lư do bài dịch quá dài, không thích hợp với phạm vi của một trang web, chúng tôi xin phép dịch giả, ông Trần Đỗ Cung, vốn từng là một Thứ Ủy Tổng Cuộc Trưởng Tiếp Tế trong một chính phủ của VNCH, được trích đăng những phần có NHẬN ĐỊNH liên hệ trực tiếp đén QUÂN LỰC VNCH.

       Vài lời của người dịch.

       Tôi được một bạn trẻ Không Quân giới thiệu và Tiến Sỹ Lewis Sorley liên lạc gửi cho tôi bài diễn văn ông đă đọc tại Đại Học Kỹ Thuật Texas TTU về đề tài Reassessing ARVN.  Ông có ư muốn nhờ tôi phiên dịch bài này ra để phổ biến rộng răi trong cộng đồng Mỹ gốc Việt.  Tôi đă đọc kỹ bài thuyết tŕnh giài 32 trang, nhận thấy rất bổ ích về phương diện sử liệu và nhân bản và đă chấp thuận đề nghị.

       Trong bài thuyết tŕnh Tiến Sỹ Sorley đă dùng nhăn quan của một quân nhân và một trí thức khoa bảng để thẳng thắn bênh vực quân đội Việt Nam trong một thời kỳ chiến đấu cam go gian khổ nhất của nước nhà.  Ông đă dầy công nghiên cứu các tài liệu đă bạch hóa hầu đưa ra những nhận xét rất xác đáng về khả năng, ḷng quả cảm và sự chịu đựng tột cùng của các chiến sỹ chiến đấu cho một nước Việt Nam tự do trước những búa ŕu bất công của các lực lượng phản chiến và thiên tả Mỹ Quốc.  Những tên tuổi lớn ông đưa ra như Đại Sứ Ellsworth Bunker, Đại Tướng Creighton Abrams, Thiếu Tướng James L. Collins, Đại Tướng Tham Mưu Trưởng Lục Quân Harolk K. Johnson, Bộ Trưởng Quốc Pḥng Robert McNamara, trùm CIA William Colby, Sir Thompson, Tướng John Paul Vann, Tướng Tiếp Vận Việt Nam Đồng Văn Khuyên,  Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tướng Cộng Sản Vơ Nguyên Giáp, Lê Trọng Tấn v.v. là những nhân vật và dẫn chứng lịch sử trong giai đoạn nhiễu nhương và đau đớn ê chề cho đất nước và tất cả chúng ta.

      Nói về chiến dịch Hạ Lào Lam Sơn 719 ông đă đưa ra những con số cho thấy địch quân đă bị thiệt hại nặng nề và quân ta tuy không thắng trận nhưng đă không thất bại như bọn chủ bại bên Mỹ đă rêu rao. 

       . . . .

Prunedale, tháng 10, 2006

     

       Trong một cuộc chiến dai dẳng và khó khăn không một ai có thể nh́n rơ khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.  Hôm nay tôi tŕnh bày vấn đề này dưới nhiều khía cạnh trong tám mục chính và hai phụ khoản.  Chính Phủ Việt Nam cấp các huy chương tham chiến cho quân nhân Mỹ.  Đặc biệt thấy gắn trên băng biểu chương một thẻ kim khí khắc “1960…”  Người ta đă không ghi niên điểm cuối cùng bởi lư do dễ hiểu; tuy nhiên ta có thể xem 1960 là khởi điểm v́ đó là mốc đánh dấu sự gia tăng tham chiến của Mỹ cho đến ngày quân đội Mỹ lên cực điểm.  Trong giai đoạn này chúng ta có môt cái nh́n tổng thể về thành tích của quân đội Việt Nam từ 1960 cho đến 1975. 

       Vài năm trước đây tôi đă viết một bài nhan đề “Dũng cảm và xương máu” để phân tích thành quả quân đội Việt Nam trong vụ tấn công tháng Tư 1972.  Bài đă được đăng trong báo Parameters của trường Đại Học Quân Sự.  Hồi c̣n sinh thời ông Douglas Pike đă b́nh luận trong một ấn bản Indochina Chronology như sau: “Đă có cố gắng chậm chạp nhưng liên tục điều chỉnh và cứu văn danh dự của ngưới quân nhân Việt Nam từng bị nhục mạ bởi bọn phóng viên truyền h́nh thương mại ngu dốt và cánh trí thức thiên tả. Bài của ông Sorley đă xét lại lịch sử và ông ta lập luận vững vàng trong lănh vực này”. Tôi vẫn tri ân lời khuyến khích ấy và ước ǵ Giáo Sư Pike c̣n hiện diện để thấy các tài liệu lịch sử hiện hữu chứng minh sự dũng cảm đưa đến trưởng thành và thành tựu của quân lực Việt Nam Cộng Ḥa.  Chỉ v́ nước chúng ta không thực thi cam kết cho Nam Việt trong khi phe cộng sản vẫn tiếp tục và đều đặn gia tăng yểm trợ Bắc Việt nên đồng minh bất hạnh của chúng ta mới bị tràn ngập và thua trận. 

       Cho đến nay chưa bao giờ có một cố gắng định mức toàn diện sự tiến triển và thành tích của quân đội Việt Nam trong những năm bành trướng.  Trong thời giờ hạn hẹp ở đây tôi chỉ mong điều chỉnh phần nào sự khiếm khuyết, bất công và nhiều lúc sai lạc mỗi khi bàn đến QLVNCH tuy đó là một thái độ khôn ngoan cho đến nay.  Chúng ta rất thiếu hiểu biết về cuộc chiến Việt Nam mặc dầu nó đă kết thúc ba mươi năm qua.  Là v́ những người phản chiến hoặc ít nhất chống sự tham dự của chính ḿnh đă mô tả mọi khía cạnh qua một lăng kính xấu và nhiều khi đă nói sai sự thật.  Ông James Webb vạch mặt giới truyền thông, trí thức và Hollywood là những nhóm đă “có lợi khi làm cho cuộc chiến bị xem là không cần thiết hay không thắng được”.  Và v́ họ điều khiển dư luận nên họ đưa ra những lập luận sai lầm ngay cả khi chiến tranh kết thúc đă ba mươi năm.  Những lập luận thật sai lạc, đi từ thóa mạ người lính Việt trong một quá tŕnh chiến đấu cam khổ cho đến Jane Fonda hạ nhục những tù binh Mỹ là bọn láo khoét hoặc đạo đức giả khi nói rằng họ đă bị tra tấn hay hành hạ trong lúc bị giam cầm.  Đă đến lúc ta phải bỏ thái độ tiêu cực, lắm khi mạt sát và cố t́nh dùng chính trị để đổ lỗi cho quân đội Việt Nam trong hầu hết các tranh luận.

       PHẦN 1 : QUÂN ĐỘI VIỆT NAM LÚC ĐẦU

       Đây là giai đoạn mà chúng ta chủ động trong khi Việt Nam bị đẩy ra ngoài lề với nhiệm vụ b́nh định (mà đây chính cũng là một khía cạnh của chiến tranh và bộ chỉ huy Mỹ đă quên lăng).  Bởi vậy họ không được cấp những vũ khí mới cũng như được trợ chiến cần thiết.  Phần đông chúng ta và ngay cả một số người Mỹ phục vụ tại chỗ đều chỉ trích quân đội Việt Nam trong thời kỳ ấy.  Họ đă không lưu ư đến một số yếu tố ảnh hưởng nặng nề lên t́nh trạng đó.  Quân cụ Mỹ cung cấp đều là những thứ lỗi thời từ Thế Chiến II, nhất là các súng trường M-1 vừa nặng vừa cồng kềnh với tầm vóc người Việt.  Trong khi đó th́ kẻ thù đă được Nga-Tầu trang bị đầy đủ súng AK-47.  Thiếu Tướng James L. Collins đă tŕnh bầy về t́nh h́nh quân đội Việt Nam như sau, “Năm 1964 địch quân đă bắt đầu xử dụng AK-47, một loại súng tân tiến, tự động và rất bén nhậy. Trái lại lực lượng bạn vẫn dùng loại khí cụ phế thải của Thế Chiến II..   Rồi từ năm 1965 khi quân Mỹ lần hồi gia tăng nhập cuộc th́ nhu cầu chiến tranh về phía bạn lại càng bị đẩy lui vào hậu trường”.

       Do đó các đơn vị Việt luôn luôn bị địch quân áp đảo trong thế đánh không cân xứng.  Đại Tướng Fred Weyand khi thuyết tŕnh măn nhiệm chỉ huy Đệ Nhị Lộ Quân đă nói rơ,  “Sự chậm trễ cung cấp khí giới và quân cụ mới cho Việt Nam, ít nhất ngang với sự yểm trợ của Nga Tầu cho quân địch làm cho quân bạn yếu kém”.

       Chỉ từ khi Đại Tướng Creighton Abrams nhận chức Tư Lệnh Phó Quân Lực Mỹ vào hồi tháng Năm 1967 người ta mới bắt đầu chú ư đến quân Nam Việt.  Tướng Abrams điện ngay cho Đại Tướng Tham Mưu Trưởng Harold K. Johnson như sau. “Tôi thấy ngay là quân lực Mỹ tại đây cũng như bên chính quốc chỉ nghĩ trước tiên đến hành quân Mỹ và yểm trợ các đơn vị Mỹ . Do đó chương tŕnh cung cấp chiến cụ cho Việt Nam đă ít ỏi mà lại c̣n không được thi hành một cách tích cực và cấp tốc như đối với quân Mỹ.  Rơ ràng chúng ta có trách nhiệm lớn với quân bạn.  Công việc phải làm ngay và tôi đang bắt tay cấp kỳ vào việc”!

       Ngay khi nhậm chức, Tướng Abrams liền gia tăng lực lượng Việt Nam, nhất là cung cấp các súng M-16.  Trong trận tấn công Tết Mậu Thân 1968 ông đă đưa được M-16 vào tay Nhẩy Dù và các đơn vị tiền tiến khác.  Tuy nhiên phần đông vẫn bị lép vế đối với công sản.  Trung Tướng Chỉ Huy Tiếp Vận Đồng Văn Khuyên nhắc lại rằng, “Trong Vụ Tềt Mậu Thân người ta nghe rơ tiếng sắc bén liên hồi của AK-47 trong Sài G̣n cũng như các thị trấn khác, như là một diễu cợt khôi hài cho các phát súng lẻ tẻ Garant và Carbine trong tay hoảng hốt của quân ta”!

       Tuy vậy quân Việt vẫn đẩy lui địch quân một cách bất ngờ và dũng cảm. Báo Time đă viết: “Nhiều người Mỹ đă ngạc nhiên và Công Sản đă đau đớn sửng sốt thấy quân đội Việt Nam đă tức tốc đương đầu và chiến đấu ngang tàng can đảm khác hẳn dự đoán”. Nhưng không thấy ai đề cập đến sự chênh lệch khí giới của đôi bên.

       Tháng Hai 1968 Tướng hồi hưu Bruce C. Clarke đi thăm Việt Nam và viết một tờ nhận định được Đại Tướng Early Wheeler chuyển đến tay Tổng Thống Johnson.  Tướng Clarke nói “các đơn vị Việt c̣n bị chi phối bởi một chương tŕnh quân viện nghèo nàn, kể cả khí giới cá nhân.  Điều này ảnh hưởng lớn đến tinh thần và thành quả của binh sĩ. Quân sỹ cảm nhận rơ khi họ không được trang bị đầy đủ”!

       Tổng Thống Johnson liền mời Tướng Clarke đến văn pḥng đàm luận thêm.  Và sau đó ít ngày “viên phụ tá Tổng Thống điện thoại báo cho tôi là Tổng Thống Johnson đă ra lệnh gửi ngay 100,000 súng M-16 cho quân VNCH”. Tổng Thống đă nhấn mạnh trong bài diễn văn lịch sử ngày 31 tháng Ba 1968, “Chúng ta sẽ nhanh chóng tăng viện cho quân đội Việt Nam để đáp ứng sự gia tăng hỏa lực của địch quân”.Thật là kịp thời.

       Tướng Clarke trở lại Việt Nam vào tháng Tám 1969 để thấy “lực lượng VNCH đă có 713,000 khẩu M-16 cùng với các khí giới khác và họ đă tiến bộ nhiều kể từ Tết Mậu Thân”.  Hiện nay họ và các lực lượng diện địa đều đă có súng cá nhân tối tân luôn cả phóng lựu M-79, súng máy M-60 và các đài vô tuyến AN/PRC-25 như quân đội Hoa Kỳ.

       Các sư đoàn Mỹ được trang bị tối tân và nhiều hơn phía Việt Nam nên khả năng tác chiến cũng gấp bội.  Tùy viên của Tướng Abrams đă nhấn mạnh là Đại Tướng đă nghiên cứu so sánh khả năng tác chiến giữa sư đoàn Mỹ và Việt Nam để thấy chênh lệch hỏa lực 16 lần.  Tướng Abrams dùng dữ kiện này để t́m cách tăng viện cho các sư đoàn VNCH.  Phía VN c̣n bị kém hơn nữa v́ lúc đầu các yểm trợ chiến trường đều ưu tiên cho quân Mỹ, như oanh tạc B-52, xử dụng trực thăng, chiến đấu cơ cận chiến và chuyển quân giữa chiến địa.

       Tướng Abrams nói thêm là trong lần tấn công thứ ba vào tháng Tám và Chín 1968 quân VN đă hạ được nhiều địch quân hơn cả tổng số của Đồng Minh.  Họ cũng chịu nhiều tổn thất nhân mạng hơn theo số kiểm chứng cũng như theo ước tính với phân số ta và địch tử vong.  Ông nói với Tướng Wheeler rằng đó là v́ thật sự quân đội VN không được yểm trợ như quân đội Mỹ cả về phẩm lẫn lượng (trọng pháo, không tập chiến thuật, không pháo và trực thăng vận).  Bởi vậy việc chỉ trích quân đội VN trong thời kỳ đầu thiếu khách quan.  Thiếu khí giới cần thiết trước một địch quân hùng hậu hơn lại c̣n bị đẩy xuống vai tṛ thứ yếu trong nhiều năm đă không cho họ cơ hội tăng tiến kinh nghiệm chiến đấu.

       Về sau ông Robert McNamara từng là Bộ Trưởng Quốc Pḥng và chủ động chiến tranh đă viết một cách hời hợt về phía Việt Nam. Ông đă bị William Colby sửa lưng như sau, “Ông không có quyền nói xấu những người Việt đă đem xương máu chống cộng sản trong khi đại cường Mỹ đă phủi tay chỉ v́ lỗi lầm của McNamara.  Mục đích hết sức cao đẹp nhưng Hoa Kỳ đă thua với McNamara và phần lớn là v́ hắn”!

       PHẦN 2.- TẾT 1968

       Chiến trận xẩy ra khắp nơi hồi Tết 1968 là một thử thách lớn cho Quân Đội VNCH.  Nhiều người đă sửng sốt chứng kiến một thành tích vượt bực.  Khi đi nhận giải Thayer tại trường Westpoint Đại Sứ Ellsworth Bunker lên diễn đàn ca ngợi chiến tích ấy.  “Mặc dầu Quân Đội VN ít hơn nhưng họ đă chiến đấu vượt bực.  Đại Tướng Abrams đă nói họ chiến đấu ngoài sức tưởng tượng của họ.  Đă không có nổi dậy, không có đào ngũ và chính quyền vẫn nguyên vẹn.  Trái lại họ phản ứng cấp kỳ, mạnh mẽ và đích đáng; họ chiến đấu với tối đa sức mạnh”.

       Thành tích vượt bực của quân đội VNCH trong trận Tết Mậu Thân 1968 rất cần thiết cho tương lai Việt Nam.  Đại Sứ Bunker nói tiếp: ”Kết quả là cả một chuỗi diễn tiến làm cho chính phủ Việt Nam vững mạnh, dân chúng tin tưởng hơn khả năng đương đầu với địch và chính quyền thấy sẵn sàng gánh vác vai tṛ chiến đấu hơn”.

       Ông John Paul Vann cũng đồng ư nói trong năm 1972 rằng “Tết Mậu Thân đă làm cho chính phủ Nam Việt gia tăng kiểm soát lănh thổ, tổng động viên nhân lực để có đủ quân số trám vào khi quân Mỹ rút lui và gia tăng lực lượng địa phương bảo dảm sự hiện diện chính quyền trung ương tại các vùng thôn quê”.  Lúc Đại Tướng Abrams nhận chức chỉ huy lực lượng Mỹ tại Việt Nam th́ xẩy ra vụ tấn công thứ ba của cộng sản vào mùa Thu 1968.  Ông điện cho Đại Tướng Earle Wheeler và Đô Đốc John McCain, “Tôi phải kết luận rằng việc quân Việt Nam đă giết nhiều địch trong ṿng sáu tuần lễ hơn cả quân Đồng Minh chứng tỏ tiến bộ lănh đạo và tinh thần xung kích của họ.  Họ phải trả một giá rất cao về tử vong vá tôi cho phần lớn là v́ không được yểm trợ đúng mức.  Do đó cần phải nhanh chóng tăng viện khí giới cho họ”.

        Trong cuộc họp thượng đỉnh ở Midway vào tháng Sáu 1969 chưong tŕnh nghị sự chú tâm đến bành trướng và tăng quân viện cho quân lực Việt Nam.  Quân số tăng lên 820,000 rồi lại đưa lên đến 1.1 triệu người đă được kư kết.  Ngoài ra, theo ghi nhận của Thiếu Tướng Trần Đ́nh Thọ, c̣n thỏa thuận trang bị thêm M-16, đại liên M-60 và hỏa tiễn LAW.  Vậy thấy rằng ngay lúc ấy mà c̣n bàn đến M-16 th́ quân Việt đă phải chiến đấu từ lâu ở thế kém với một địch quân hùng hậu.

            . . . .