I. Mở Đầu
Lúc bấy giờ
là tháng năm, 1985, người Việt Nam tại quốc nội, nhất là
dân chúng cư ngụ vùng Saig̣n, Gia Định, vẫn nô nức nhưng
kín đáo t́m đường vượt biên. Trong trường hợp âm mưu
vượt biên thất bại, người vượt biên sẽ bị Cộng Sản
Việt Nam hành hạ dưới tội danh "phản quốc". V́ thế, công
việc chuẩn bị vượt biên cần phải được bảo mật tuyệt
đối.
Chính v́ hai chữ
"bảo mật", nhiều người đă ra khơi một cách hoàn toàn bất
ngờ, không một lời giă biệt bằng hữu. Riêng tôi, tôi nhất
định vượt biên, nhất định bảo mật, nhất định ân cần
thăm viếng và từ biệt bạn bè cũ. Nhằm đáp ứng các "nhất
định" vừa nêu, một ngày trước khi rời xa quê hương, tôi
quyết định t́m gặp những người bạn đặc biệt của tôi. Những người bạn đó hoàn toàn kín tiếng. Những người
bạn đó không c̣n bận tâm chọn lựa đời sống ở bên này
hay bên kia bờ đại dương. Những người bạn đó đă đi
trọn đường trần bằng tất cả gian khổ với một ước
mơ bất thành: ước mơ Việt Nam thống nhất, dân chủ và
thịnh vượng. Những người bạn đó chính là các bạn đồng
ngũ thương mến của tôi đang an nghỉ tại nghĩa trang Quân
Đội Biên Ḥa.
Chiều
hôm ấy, khoảng ba giờ, một ḿnh tôi thẫn thờ bước vào
nghĩa trang Biên Ḥa. Bức tượng Thương Tiếc nằm ở ngay
cổng đă bị mang đi nơi khác tự bao giờ. Con đường từ
xa lộ chạy vào tới đài kỷ niệm Chiến Sĩ Trận Vong vẫn
c̣n đó, vẫn dài, vẫn thẳng, nhưng hai hàng phượng đứng
bên đường trông thật tiều tụy và ủ dột. Có thể v́
phượng thiếu nước, thiếu gió. Có thể v́ phượng muốn
biểu tỏ tấm ḷng trắc ẩn của cỏ cây dành cho hàng ngàn
anh linh chiến sĩ đă vị quốc vong thân nhưng nay phải ngậm
đắng nuốt cay nơi suối vàng trước cảnh "quốc" đang bị
đè bẹp dưới ách độc tài Cộng Sản. Vào tới khu dành
cho mộ phần của chiến sĩ, khách viếng mộ tận mắt chứng
kiến toàn thể nghĩa trang đều bị đập phá tàn nhẫn. Đây
là một ngôi mộ bị đào bới để lộ cả quan tàI mở nắp,
di cốt tử sĩ đă biến mất. Kia là một ngôi mộ nằm ở
triền đồi, bia đá vẫn c̣n nguyên nhưng di ảnh của ngườI
quá cố có dấu vết vài phát đạn vào mắt, vào miệng. Kế
đó là nơi an nghỉ của một sĩ quan cấp tá, trên bia đá,
người nào đó lấy sơn đen viết một câu giễu cợt, rất
phản văn hóa.
Cứ như vậy,
khách viếng nghĩa trang lần lượt ghi nhận vô số h́nh ảnh
năo nề của một nghĩa trang bị nhận xuống tận cùng của
hố ô nhục. Mặc cho ô nhục chồng chất, toàn bộ mộ phần
của nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa vẫn lặng lẽ hướng về
đài chiến sĩ trận vong. Đài này nằm trên đỉnh một ngọn
đồi tọa lạc tại trung tâm nghĩa trang. Kiến trúc trọng
yếu của đài chiến sĩ trận vong là một tháp xi-măng xám,
cao vời vợi. Tháp này gợi nhớ h́nh ảnh cây bảo kiếm của
người chiến sĩ vô danh năm xưa đă để lại nơi dương thế
trước khi đi vào cơi vĩnh hằng. Từ cơi vĩnh hằng xa xăm
kia, người ta vẫn nghe vang vọng một câu hỏi, nửa như kinh
ngạc, nửa như phẫn hận: tại sao nghĩa trang của những anh
hùng vị quốc vong thân lại có thể bị lăng nhục???
Bây giờ
nhiều năm đă trôi qua... Bây giờ những xót xa về cảnh tượng
hoang phế và cô tịch của nghĩa trang Quân Đội Biên Ḥa đă
lắng đọng... Bây giờ những uẩn ức về lệnh buông súng
tức tưởi đă trôi xa vào quá khứ... Bây giờ thời gian là
năm 2002, một chiều tĩnh lặng cuối thu. Không gian là công
viên tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ thuộc thị xă Westminster,
California.
Tôi ngồi tựa
lưng vào chân tượng đài, trầm ngâm suy nghĩ về quân đội
Việt Nam Cộng Ḥa.
II. Phương pháp đánh giá một Quân Đội
Trước tiên, tôi nghĩ tới những luận cứ chê trách QĐVNCH. Có người nêu
rơ danh tánh vài ba ông tướng buôn lậu để đơn giản cho
rằng QĐVNCH là quân đội buôn lậu. Người khác đă viện
dẫn trường hợp đào ngũ, nghịên ngập của năm bẩy quân
phạm trong quân lao G̣ Vấp để vội vàng kết luận: QĐVNCH
là quân đội vô kỷ luật. Người khác nữa đă kể lại
câu chuyện một quân nhân đầu hàng địch quân trên trận
địa để nhanh chóng nhận định QĐVNCH là quân đội hèn
nhát... Tất cả các đánh giá vừa kể hiển nhiên là kiểu
đánh giá xuất phát từ những người rất giầu ác ư nhưng
vô cùng nghèo nàn hiểu biết về phương pháp đánh giá. Làm
thế nào để chúng ta có thể đánh giá một tập thể trên
căn bản chừng mực và nghiêm chỉnh?
Đi t́m giải đáp
cho câu hỏi vừa kể, có lẽ chúng ta nên suy nghĩ về một
phương pháp đánh giá trong khoa kinh tế học. Mỗi khi tổng
sản lượng quốc gia gia tăng, chưa hẳn người dân được
sống trong thịnh vượng. Những năm gần đây,
tổng sản lượng
quốc gia Việt Nam được ghi nhận là gia tăng nhưng tuyệt
đa số quần chúng Việt Nam vẫn bị giam cầm trong cuộc sống
cùng khổ.
Lợi nhuận của
sinh hoạt kinh tế phải là lợi nhuận chung của toàn bộ xă
hội. Lợi nhuận kia phải được phân bổ hợp lư cho toàn
dân. Thế nhưng CSVN đă cưỡng chiếm lợi nhuận kinh tế cho
đảng CS và cho cá nhân đảng viên nhất là đảng viên thuộc
giai cấp tư bản đỏ. Đó là lư do giải thích tại sao tổng
sản lượng quốc gia VN gia tăng nhưng hai chữ "thịnh vượng"
vẫn là ngườI khách cực kỳ xa lạ đối với quần chúng
nghèo túng. V́ vậy, muốn so sánh mức độ thịnh vượng giữa
hai hay nhiều nền kinh tế, các chuyên viên kinh tế phải đồng
thuận với nhau về một người tiêu thụ mẫu mực gọi là
"kinh tế nhân". Kinh tế nhân là người tiêu thụ một số
lượng nhất định về các sản phẩm kinh tế căn bản như
vải vóc, lương thực v...v... trong một thời lượng đă được
quy ước trước. Thế rồi từ ư niệm kinh tế nhân, chúng
ta có thể xác định mức độ thịnh vượng của một nền
kinh tế bằng cách cân đo xem nền kinh tế đó đă thực sự
nuôi dưỡng được bao nhiêu kinh tế nhân trên tổng dân số. Kết quả
của việc cân đo này giúp chúng ta dễ dàng thiết
lập bảng xếp hạng kinh tế thịnh vượng giữa các quốc
gia.
Đánh giá một
nền kinh tế, chúng ta cần "kinh tế nhân" làm thước đo. Đánh
giá một quân đội, chúng ta cũng cần một thước đo tương
tự. Thước đo đó chính là một người lính b́nh thường. Người
lính đó không phải là một ông tướng lúc nào cũng
sẵn sàng "bỏ quân chạy lấy người". Người lính đó không
phải là anh binh nh́, suốt ngày ngồi ở vọng gác th́ thầm
ca bài "Kỷ Vật Cho Em". Người lính đó mang trong người đầy
đủ "tính lính" mà hầu hết binh lính trong QĐVNCH đều có.
NgườI lính đó là "người lính tiêu biểu". Bây giờ chúng
ta hăy khảo sát phẩm cách người lính tiêu biểu, mà bài
viết này chỉ gọi tắt là người lính.
III. Quá tŕnh thụ giáo của người lính
Muốn xác định phẩm chất của một quân đội, chúng ta không thể không t́m
hiểu cội nguồn giáo dục đă đào tạo ra hàng ngũ quân nhân
cho quân đội đó. Chế độ CSVN là chế độ độc tài, tham
ô và bóc lột. V́ vậy chế độ này cần rất nhiều tay sai
để bảo vệ giới thống trị. Cũng v́ vậy giáo dục của
CSVN là giáo dục đào tạo tay sai. Chủ nghĩa Marx Lenine và
luận cứ ca tụng đảng, suy tôn Hồ Chí Minh, là các công
cụ trọng yếu của guồng máy giáo dục CS. Ngược lại, VNCH
có một nền giáo dục "rất Người". Trên toàn lănh
thổ VNCH,
các môn học như: công dân giáo dục, sử học, văn chương,
triết học v...v... không hề có chỗ đứng dành cho tư tưởng
độc tôn lănh tụ hay độc tôn chế độ. Đó là nội dung
cốt lơi của chương tŕnh giáo dục nhân bản mà người lính
của QĐVNCH đă được hấp thụ trong toàn bộ học tŕnh của
tiểu, trung và đại học. Đó là một sự thực mà không một
người nào đă từng sinh ra và lớn lên trong xă hội VNCH có
thể phủ nhận được. Một sự thực mà guồng máy thông
tin tuyên truyền của CSVN không thể
xuyên tạc hoặc bóp méo.
Ngay sau khi "xếp
bút nghiên theo việc đao cung", người lính lại bước vào
trường học mới: ngành tâm lư chiến của QĐVNCH. Tại đây
người lính không hề bị nhồi sọ để trở thành tay sai
cho lănh tụ hay chế độ chính trị nào. Người lính của
QĐVNCH chỉ được trang bị một loại vơ khí tinh thần duy
nhất là ḷng yêu nước và tinh thần tôn trọng kỷ luật
quân đội.
Song song với giáo
dục học đường dân sự và giáo dục tâm lư chiến của
quân đội, người lính c̣n được hấp thụ một nền giáo
dục nhân bản của toàn bộ xă hội. Người ta có thể không
đồng ư với các chế độ chính trị tại VNCH về một số
sự việc nào đó nhưng không thể chối căi rằng VNCH là một
chế độ tôn trọng quyền tự do tư tưởng. Quyền tự do
này được thể hiện đậm nét trên hai lănh vực: nghệ thuật
tŕnh diễn và nghệ thuật văn học. Điều này giải thích
lư do tại sao sau nhiều năm bi. CSVN t́m đủ mọi phương cách
để tiêu diệt, những tác phẩm văn học nghệ thuật xuất
phát từ xă hội VNCH vẫn được lưu truyền càng ngày càng
mạnh mẽ trong dân gian ở cả hai miền Nam và Bắc.
Nh́n chung lại,
giáo dục học đường, giáo dục tâm lư chiến cùng với giáo
dục xă hội là ba nguồn giáo dục nhân bản mà người lính
VNCH đă được tôi luyện từ thời niên thiếu cho đến hết
cuộc đời binh nghiệp. Trong thực tiễn đời sống, ba nguồn
giáo dục căn bản kia đă hướng dẫn người lính VNCH
sống
và chiến đấu đúng với hướng phát triển t́nh cảm trong
sáng của một Con Người. Hướng phát triển đó được triết
học cụ thể hóa bằng biểu đồ h́nh trôn ốc. Vạn vật
vận động theo h́nh trôn ốc. H́nh trôn ốc triết học có
đỉnh đặt trên mặt đất, đáy hướng lên trời. H́nh trôn
ốc là h́nh vẽ diễn ư rằng mỗi vận động trong vạn vật
đều xuất phát từ một điểm để sau đó phát triển rộng
ra, cao lên, cả về lượng lẫn phẩm. Khảo sát diễn tiến
phát triển t́nh cảm của một cá nhân,chúng ta thấy: ngay
sau khi được cha mẹ cho chào đời, đứa bé quyến luyến
cha me. Đó là t́nh con cái đối với cha mẹ (đỉnh của h́nh
trôn ốc). Thế rồi theo đà khôn lớn, đứa bé t́m tới t́nh
anh chị em ruột thịt, rồi t́nh họ hàng gần xa, rồi t́nh
làng xă, t́nh quốc gia dân tộc, t́nh nhân loạị. Cứ như
thế t́nh cảm của con người sau khi rời đỉnh h́nh trôn
ốc đă men theo các ṿng xoáy h́nh trôn ốc để từ thấp
lên cao, từ đơn giản đến phong phú cả về phẩm lẫn lượng.
Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, quá tŕnh giáo dục của người
lính VNCH hoàn toàn phù hợp với nhận định của triết học
về vận động của vạn vật. Sự phù hợp vừa nói khẳng
định mạnh mẽ rằng: môI trường sống cùng với môi trường
giáo
dục tại miền Nam Việt Nam trước 1975 đă tạo điều kiện
cho người lính VNCH trở thành những người thực sự yêu
quê hương đất nước theo đúng quy luật sinh hoạt t́nh cảm
tự nhiên của Con Người.
IV. Bản chất của người lính VNCH
Do yêu quê hương
đất nước, người lính VNCH đă nhận thức được rằng
cuộc chiến đấu chống quân đội CSVN trước 1975 là cuộc
chiến đấu cho tự do dân chủ, cho chính nghĩa. Sau 1975, nhà
khoa học Nguyễn Thanh Giang đă kêu gọi mọi người Việt Nam
(Bắc cũng như Nam) hăy tri ân chiến sĩ VNCH trong trận hảI
chiến chống Trung quốc ở Hoàng Sa. Mới đây nhà văn Dương
Thu Hương, một "chiến sĩ chống Mỹ cứu nước" trước kia
đă giác ngộ chính nghĩa bằng cách viết bài "Tiếng Vỗ Cánh
Của Bầy Qua. Đen". Qua bài viết này, Dương Thu Hương tố
cáo cuộc chiến tranh tại Việt Nam trước 1975 do CSVN phát
động là một tội ác phỉnh gạt vĩ đại. CSVN phỉnh gạt
đồng bào miền Bắc bằng cách nhân danh tự do và cơm áo,
đẩy đồng bào lao thân vào cuộc chiến tàn khốc tại miền
Nam Việt Nam. Để rồi sau 30/4/1975, CSVN đă để lộ nguyên
h́nh là một đảng Mafia tham ô và bóc lột. Nói ngắn và gọn,
nhà văn Dương Thu Hương đă xác nhận điều được gọi là
chiến tranh "Giải Phóng Miền Nam" do CSVN phát động chẳng
qua chỉ là một hành động phi nghĩa. Các sự thể kể trên
đă mạnh mẽ làm nổi bật tính chất chính nghĩa trong cuộc
chiến đấu bảo vệ tự do cho miền Nam VN của người lính
VNCH.
Do yêu quê hương
đất nước, người lính VNCH chấp nhận phục vụ quê hương
với những điều kiện sinh hoạt rất thanh bạch. Nghèo khổ
không than trách. Nguy hiểm không sờn ḷng. Người lính VNCH
bao giờ cũng tận t́nh với nghĩa vụ bảo quốc, an dân. Người
lính tuyệt vời kia đă được đền thưởng những
ǵ? Phần
đền thưởng đó lại chính là con đường "vị quốc vong
thân" trong tuyệt đối hiu quạnh. Con đường ấy đưa đẩy
người lính rơi vào một t́nh huống cực kỳ quái dị, cực
kỳ tê táị "Đám Ma Tù" là điển h́nh của t́nh huống vừa
kể:
"Vài tên cầm súng bước đi đầu
Tên nữa AK tiếp theo sau
Một xác bó tṛn đôi manh chiếu
Hai đầu buộc tréo bốn dây lau
Không kèn, không trống, không đưa tiễn
Chẳng khói, chẳng nhang, chẳng nguyện cầu
Chỉ có bạn tù khiêng lặng lẽ
Vùi nông một khối hận thù sâu !!!"
Ngô Minh Hằng--Thi Phẩm Gọi Đàn
Do yêu quê
hương đất nước, người lính VNCH bao giờ cũng chuyên cần
đổ mồ hôi trên thao trường của các quân trường, bao giờ
cũng thiện chiến và anh dũng đoạt chiến thắng lừng danh
trên mọi h́nh thái trận địa. Các chiến thắng B́nh Long,
An Lộc, tái chiếm cổ thành Quảng Trị, mùa Hè Đỏ Lửa 1972,
phản ứng nhanh và chính xác trong biến cố Tết Mậu Thân
v...v... là những thí dụ điển h́nh tạo nên "Quân
Sử Vàng"
của QĐVNCH.
Do yêu thương
quê hương đất nước, người lính VNCH bao giờ cũng nêu cao
gương trách nhiệm trong mỗi hành động chiến đấu. Hải
Quân Thiếu Tá Ngụy Văn Thà anh dũng trầm ḿnh theo chiến
hạm do ông chỉ huy trong trận hải chiến với Trung Cộng tại
quần đảo Hoàng Sa. Các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng,
Nguyễn Văn Hai, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và vô số anh hùng quân
đội vô danh khác đă ngạo nghễ chọn cái chết thay v́ đầu
hàng địch quân vào ngày 30/4/1975.
Do yêu thương
quê hương đất nước, người lính VNCH bao giờ cũng tôn trọng
quân kỷ. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là người lính
chỉ biết tuân hành mọi loại mệnh lệnh một cách mù quáng.
Trong rất nhiều trường hợp, nghĩa vụ ân cần chăm sóc thương
bệnh binh phải được xem trọng hơn nghĩa vụ tự giam bó
trong quân kỷ. Đó là ư nghĩa của Kinh và Quyền trong tinh
thần quân kỷ của người lính VNCH. Đó là ư nghĩa của kỷ
luật tự giác mà người lính VNCH muốn đề cao. Đó c̣n là
lư do giảI thích tại sao trong QĐVNCH lại có những hành động
phản kháng kiểu Bác Sĩ Quân Y Hà Thúc Nhơn, Bác Sĩ Quân Y
Phạm văn Lương.
V. Hệ lụy của một quân đội bị bức tử
Phẩm chất người lính tiêu biểu của QĐVNCH như đă
tŕnh bày ở trên chính là phẩm chất của toàn thể QĐVNCH.
QĐVNCH sinh ra, lớn lên
và hùng mạnh trong môi trường nhân bản. QĐVNCH không hề
là, không thể là quân đội tay sai của ngoại bang hay bất
kỳ chế độ chính trị nào. QĐVNCH là h́nh ảnh sinh động
của lương tri và ái quốc. QĐVNCH thiện chiến và chiến đấu
dũng cảm.
Thế nhưng, hành
động phản bội của người bạn đồng minh Hoa Kỳ đă mặc
nhiên trói tay QĐVNCH. Khai thác hoàn cảnh "bị trói tay" đó,
CSVN vội vàng tạo tội ác 30/4/75. Nói rơ ràng hơn, Hoa Kỳ
phản bội cộng với bản chất gian ác của CSVN là hai lư
do chủ yếu dẫn đến "cái chết" của QĐVNCH. Thông thường
chết có nghĩa là từ giă mọi hệ lụy. Thế nhưng, ngay sau
ngày bị "bức tử", QĐVNCH đă để lại cho dương gian ba hệ
lụy căn bản như sau:
Hệ lụy 1:
Hơn ai hết, VC nhận biết rất rơ bản chất nhân
bản và ái quốc của QĐVNCH. Vẫn hơn ai hết VC tự nhận
biết bản chất Mafia của CSVN. Nhà văn Dương Thu Hương gọi
Mafia VC là "Bầy Quạ Đen". Lo sợ ḷng yêu nước và tính dũng
cảm của QĐVNCH được dư luận truyền tụng rộng răi và
lâu dài. Sự thể này sẽ làm gia tăng vượt bực ḷng căm
phẫn của nhân dân VN đốI với "Bầy Quạ Đen". V́ vậy trong
các thập niên qua, CSVN không ngừng nỗ lực phá hoại uy danh
của QĐVNCH. Ngày 24/9/2002 trên báo The Orange County Register, qua
bài viết "Victory most can celebrate" của kư giả Gordon Dillow,
đă nhắc lại các sự việc:
- VC phá hủy có phương pháp nghĩa trang QĐVNCH.
- VC đẩy hàng ngàn cựu chiến binh tàn phế của QĐVNCH vào cảnh sống hành khất.
- VC kiên tŕ và nỗ lực phá hoại công cuộc xây dựng tượng đài chiến sĩ Việt
Mỹ tại Westminster, California.
Ba sự việc nêu
trên đi kèm với khối sách báo của VC viết về QĐVNCH là
những bằng chứng mạnh mẽ cho thấy ác ư hủy diệt uy danh
QĐVNCH của VC.
Hệ lụy 2:
Sau chiến tranh Việt Nam, dư luận không hề cho rằng Hoa Kỳ
đă thua kém VC trên địa bàn quân sự. Tuy nhiên "Hoa Kỳ phản
bội QĐVNCH" là một sự thực không thể chối căị nhằm
xóa bỏ mặc cảm phản bội, giới truyền thông Hoa Kỳ đă
cố gắng làm cho thế giới hiểu rằng chiến tranh VN là chiến
tranh giữa Hoa Kỳ và VC. Đó là lư do giải thích tại sao sách
báo và nhất là điện ảnh Hoa Kỳ triệt để tránh né đề
cập tới vai tṛ của QĐVNCH trên chiến trường VN. Sự thể
"tránh né" vừa nói đă làm cho dư luận hiểu lệch đi rằng
QĐVNCH chỉ là cáI bóng mờ bên cạnh binh sĩ Hoa Kỳ và rằng
QĐVNCH rất ngại chiến đấu. Để bác khước kiểu "hiểu
lệch" kia, chúng ta hăy mang con số 400.000 tử sĩ VNCH đặt
bên cạnh con số 50.000 binh sĩ Hoa Kỳ tử vong trong chiến tranh
VN (http://encyclopedia.com/section/vietnam w.
end of the war: U.S. casualties in Vietnam during the era of direct U.S. involvement (1961-72)
were more than 50,000 dead; South Vietnamese dead were estimated at more than
400,000). Sự
sai biệt lớn lao giữa hai con số là một bằng chứng bằng
máu về ḷng ái quốc và dũng cảm của QĐVNCH.
Hệ lụy 3:
Đương đầu với hệ lụy (1) và (2), QĐVNCH hoàn toàn im lặng
trong cơi bức tử. T́nh trạng im lặng kia là cơ hội làm cho
một số người, nhất là những người ra đời sau 1975 hiểu
lầm tai hại về thanh danh của QĐVNCH. Đó là hệ lụy thứ
ba mà QĐVNCH đang gánh chịu.
VI. Giải trừ oan khiên
Những điều tŕnh
bày ở trên đă minh chứng cả ba hệ lụy là ba oan khiên.
Làm thế nào để giải trừ oan khiên?
Giải trừ một: qúi vị cựu quân nhân của QĐVNCH
hăy hănh diện về tư cách cựu quân nhân của mỗi quư vị. Quư vị gia đ́nh
cựu quân nhân và tất cả những người xuất thân từ xă
hội VNCH hăy ghi khắc trong tim óc của mỗi quư vị: chúng
ta đă có nhiều thập niên sống trong sự che chở ân cần
của QĐVNCH. Một quân đội đă bảo vệ người dân bằng
chính sinh mệnh của người lính.
Giải trừ hai:
người Việt Nam lớn lên trong chiến tranh hăy giải thích cho
người VN ra đời sau 1975, nhất là những người VN sinh trưởng
tại quốc ngoại để họ hiểu biết tường tận về lương
tri và ḷng ái quốc của QĐVNCH, về những liên hệ thân
thiết giữa người dân và QĐVNCH. Hành động giải thích này
hoàn toàn không mang ư nghĩa của một cảm tính. Nó là sự
truyền đạt từ thế hệ này qua thế hệ khác những hiểu
biết về vận động quan trọng của lịch sử. Nó ẩn chứa
trong nó ước mơ rằng: trong tương lai, quốc gia Việt Nam sẽ
có một quân đội thực sự v́ nhân dân. Các loại quân đội
tay sai của "Bác", của Đảng, của bất kỳ phe phái chính
trị nào phải triệt để bị loại bỏ. Ước mơ vừa nêu
tuy gián tiếp nhưng mạnh mẽ vinh danh QĐVNCH.
Giải trừ ba:
đất nước là tài sản chung của toàn dân. Người dân phải
thực sự là chủ nhân ông tối cao và duy nhất của đất
nước. Đó là chân ư nghĩa của công bằng và lẽ phải. Đó
là quy luật sống tự nhiên của mỗi dân tộc và của toàn
nhân loại. Quy luật sống tự nhiên kia đ̣i hỏi những hoạt
động kiểu giáo dục, luật pháp, kinh tế, nhất là quân sự
phải là sinh hoạt nhân bản và công bằng của xă hội.
Bài viết này chỉ xin nhấn mạnh đến guồng máy quân đội.
Quân đội dân
chủ bao giờ cũng vận động theo chuẩn mực bởi dân, của
dân và v́ dân. Nhà cầm quyền dân chủ không bao giờ nuôi
tham vọng biến quân đội trở thành công cụ bảo vệ ngôi
vị cầm quyền. Qua quá tŕnh giáo dục, qua quân sử và nhất
là qua thực tiễn chiến đấu và phục vụ, QĐVNCH đích thực
là một quân đội của xă hội dân chủ. QĐVNCH và dân chủ
như h́nh vớI bóng. Chế độ dân chủ bị chà đạp, QĐVNCH
bị lăng nhục. V́ vậy mọi người Việt Nam trong cũng như
ngoài nước hăy nỗ lực mang lại dân chủ cho Việt Nam. Ngày
chế độ dân chủ được tái lập tại Viet Nam chính là ngày
danh dự của QĐVNCH được phục hồi.
Như vậy là
ba phương pháp giải trừ đi kèm với ba hệ lụy.
Mỗi giải trừ
tượng trưng bởi một nén nhang.
- Nén nhang thứ nhất là lời tri ân của TỔ QUỐC
- Nén nhang thứ hai là lời vinh danh tinh thần TRÁCH NHIỆM của QĐVNCH
- Nén nhang thứ ba là lời nguyền quyết tâm phục hồi DANH DỰ cho QĐVNCH, một
quân đội thực sự yêu nước, thiện chiến, và dũng cảm.
Người viết bài này kính cẩn đặt ba nén nhang kia dưới chân
TƯỢNG ĐÀI
CHIẾN SĨ Việt Mỹ, Westminster, California. Hành động này mang
hàm ư chúc mừng ngày khánh thành tượng đài.
Hành động này c̣n là sự biểu tỏ
L̉NG TUYỆT ĐỐI TÔN KÍNH VÀ THƯƠNG YÊU ĐỐI VỚI QĐVNCH./.
Đỗ Thái Nhiên
Nguyên thiếu úy, trưởng ban Quân số
Tiểu Đoàn 3, Pháo Binh Pḥng Không
KBC 4314