|
Sau 30 Năm Giữ Yên Lặng, Cựu Bộ Trưởng Quốc Pḥng Hoa Kỳ Melvin R.
Laird Nói Ǵ Về Cuộc Chiến Tranh ở Việt Nam?
[03/03/2006 - Tác giả: admin1 - Vietnam Review]
Nguyễn Quốc Khải 3.3.2006 © 2006 talawas
1. Mở Đầu
Ông Melvin R. Laird giữ chức Bộ trưởng
Quốc pḥng trong những năm 1969-1973 dưới thời Tổng thống Richard Nixon.
Ông rời khỏi Ngũ giác Đài sau khi việc rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam đă hoàn
tất. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, ông trở lại làm Cố vấn Nội
vụ cho Tổng thống Nixon vào tháng 6.1973. Tám tháng sau ông xin từ chức khi cuộc khủng
hoảng Watergate trở thành nghiêm trọng. Từ ngày rời khỏi Bộ Quốc pḥng và chính
trường, ông Laird hoàn toàn giữ yên lặng về chiến tranh tại Việt Nam, một
vấn đề chiếm nhiều th́ giờ nhất khi ông làm việc tại Ngũ giác
Đài. Vào cuối năm vừa qua, lần đầu tiên ông lên tiếng về cuộc
chiến này v́ có nhiều người liên hệ chiến tranh hiện nay ở Iraq với cuộc
chiến tại Việt Nam.
Dù ông Laird là một trong những người thân cận của
Tổng thống Nixon trong giai đoạn Watergate, nhưng tư cách của ông vẫn giữ
được vẹn toàn. Ông Laird là người chính trực và có đầy đủ
thẩm quyền để nói về chiến tranh Việt Nam. Những phần sau đây
tŕnh bày các nhận định của ông Laird vể cuộc chiến này. [1] Nhiều ư kiến
của một số nhân vật khác cũng sẽ được trích dẫn để so sánh.
Mục tiêu của bài này là t́m hiểu sự thật về
chiến tranh Việt Nam dù là sự thật cay đắng. Nhưng với sự can đảm
nh́n thẳng vào sự thật đó, tác giả mong học được những bài học cho
việc phát triển đất nước trong tương lai.
2. Sự thật về việc tham chiến của
Hoa Kỳ
Từng là dân biểu trong Quốc hội Liên bang và Bộ trưởng
Quốc pḥng, ông Laird nhận định rằng cuộc chiến Việt Nam là một biến cố
bi thảm, tệ hại, và được vận hành một cách vụng về trong lịch sử
của Hoa Kỳ, với sự tổn thất nhân mạng lớn lao cho cả mọi phe.
Nhưng ông nghĩ rằng chúng ta không thể kết luận một cách ngắn gọn rằng
chiến tranh Việt Nam là một sai lầm. Cuộc chiến này khá phức tạp: một
hỗn hợp của tốt và xấu mà từ đó có thể rút tỉa ra nhiều bài học giá
trị. Tuy nhiên chỉ có một bài học xem ra tiếp tục tồn tại là “Đừng nên
để bị mắc kẹt vào một Việt Nam thứ hai.” Có những người ở
Hoa Kỳ ưa châm chọc vào vết thương thay v́ để yên cho nó lành lại. Họ
sẵn sàng đem con ngáo ộp Việt Nam ra đe dọa bất cứ khi nào có cuộc xung đột
vơ trang. Đối với những người này, Việt Nam là một chính sách bảo hiểm
để bảo đảm cho nền hoà b́nh ở nội địa nếu Hoa Kỳ không bao giờ
phiêu lưu ở thế giới bên ngoài nữa. Do đó, cần phải vạch ra và xoá bỏ
những ư niệm sai lầm về cuộc chiến Việt Nam để Hoa Kỳ phục hồi
sự tự tin vào khả năng xây dựng quốc gia.
Theo ông Laird, sự thật về Việt Nam là Hoa Kỳ không thua
trận khi rút quân vào năm 1973. Sự kiện cho thấy rằng Hoa Kỳ đă chuốc lấy
thất bại, bỏ lỡ mất cơ hội chiến thắng hai năm sau khi Quốc hội
chấm dứt viện trợ cho miền Nam Việt Nam và do đó làm mất khả năng chiến
đấu của Việt Nam Cộng hoà.
Hồ sơ chiến tranh do Hà Nội bạch hoá mới
đây cho thấy rằng Sô Viết đă vi phạm Hiệp định Paris 1973 v́ đă tiếp
tục viện trợ cho Bắc Việt 1 tỉ Mỹ kim mỗi năm thay v́ chỉ được
phép thay thế vơ khí và máy móc. Trong khi đó Hoa Kỳ chỉ viện trợ quân sự giới
hạn cho miền Nam trong 2 năm. Sau khi xẩy ra biến cố Watergate, Hoa Kỳ đă thất
bại trong việc tiếp vận cho đồng minh ở miền Nam Việt Nam v́ sự sụp
đổ của cơ cấu lănh đạo ở Washington. Chính quyền tiếp nối không
giữ lời hứa của chính quyền trước đă gây ảnh hưởng tai hại trong
việc thương thuyết giữa hai miền Nam - Bắc Việt Nam.
Ông Laird cho rằng chiến tranh Việt Nam bắt nguồn từ
những sai lầm quá tệ hại về t́nh báo. “ Hoa Kỳ đă không hiểu được
động lực nào thúc đẩy ông Hồ Chí Minh trong thập niên 1950. Nếu hiểu
được tinh thần quốc gia sâu xa của Hồ Chí Minh, Hoa Kỳ đă có thể thay
đổi khuynh hướng cộng sản của ông.” Cái cớ để Hoa Kỳ nhảy
vào cuộc chiến Việt Nam là việc chiến hạm U.S.S. Maddox bị ba tàu phóng thủy lôi
của hải quân Bắc Việt tấn công vào ngày 2.8.1964 trong vịnh Bắc Việt cách duyên hải
Việt Nam 25 dặm. Cuộc tấn công đơn lẻ này có thể xem như là một lầm
lẫn bất thường (aberration). Nhưng hai ngày sau, chiến hạm U.S.S. Maddox, với sự
tham dự của chiến hạm U.S.S. Turner Joy, đă báo cáo rằng tàu bị tấn công lần thứ
hai. Năm năm sau, khi là Bộ trưởng Quốc pḥng, căn cứ vào các báo cáo, ông Laird
nhận định rằng không có lần tấn công thứ hai. Đây là một sự nhầm
lẫn, sợ hăi quá độ, và thông tin sai lệch xảy ra trong đêm tối. [2] Ông Laird
từng phục vụ trên chiến hạm U.S.S. Maddox trong Đệ nhị Thế chiến và đă
bị thương khi chiến hạm này bị phi công cảm tử của Nhật tấn công trên
biển Thái B́nh Dương. Mảnh đạn c̣n lưu lại trong cơ thể của ông cho
đến ngày nay.
Tổng thống Johnson và Bộ trưởng Quốc pḥng McNamara không
che giấu hoặc giải thích sai lầm của tin t́nh báo không đúng về vụ hải quân
Bắc Việt tấn công tàu Maddox. Nhưng sự kiện là ông McNamara đă hăm hở đến
Quốc hội và đưa ra một lời tuyên bố không có nghĩa là chiến tranh, nhưng dù sao
cũng đă gây ra chiến tranh. [3] Ông Laird cùng với 501 đồng nghiệp ở Quốc hội
đă bỏ phiếu ủng hộ Nghị quyết vịnh Bắc Việt (Tonkin Gulf Resolution), cho
phép Tổng thống Johnson gia tăng vai tṛ của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Trước đó Hoa
Kỳ một phần là kẻ ngoại cuộc, một phần là một kẻ chiến đấu
bí mật, phần khác là cố vấn. Ông Laird gián tiếp kết luận rằng Hoa Kỳ đă
dần dần, một cách bí mật, và sơ ư rơi vào vấn đề Việt Nam.
Ông Laird công nhận rằng Hoa Kỳ có một số ít quyền lợi kinh tế ở Việt
Nam. Mặt khác, một vấn đề an ninh quốc gia là cần phải ngăn ngừa ảnh
hưởng giây chuyền theo đó toàn thể thế giới sẽ rơi vào ṿng kiểm soát của
cộng sản, nếu mất vùng Đông Nam Á. Tuy nhiên lư do này không có đủ trọng
lượng. Nhưng theo cựu Bộ trưởng Quốc pḥng Melvin R. Laird, chiến tranh
Triều Tiên vào đầu thập thập niên 1950 là một bằng chứng về mối đe
dọa của cộng sản tại Á châu. Vào hai thập niên 1960 - 1970 mối đe dọa này
tiếp tục và là sự thật đặc biệt ở vùng Đông Nam Á. Tại Phi Luật T
ân, Mă Lai Á, Tân Gia Ba, Nam Dương và ngay cả tại Ấn Độ, phong trào cộng sản đă
thiết lập được các căn cứ địa vững vàng.
Mục tiêu của Hoa
Kỳ là chặn đứng sự bành trướng của cộng sản ở Á châu.
3. Diễn biến của chiến tranh
Theo ông Laird, việc Mỹ hoá chiến tranh Việt Nam, hay nói một
cách khác là Hoa Kỳ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, là một thảm họa lớn,
một quyết định sai lầm. Kế hoạch này bắt đầu bằng việc
Tổng thống John F. Kennedy gửi vài trăm cố vấn đến Việt Nam. Vào năm 1962
Hoa Kỳ đă có 16,000 cố vấn tác chiến (combat advisers) tại Việt Nam. [4] Tổng
thống Johnson nhận định rằng Đông Nam Á là nơi để chặn đứng sự
bành trướng của cộng sản. Do đó Johnson quyết định vung tiền và sử
dụng không hạn chế nhân lực vào mục tiêu này. Những đơn vị tác chiến
đầu tiên của Hoa Kỳ được gửi đến Việt Nam vào năm 1965. Trong
chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ chủ trương giúp thành lập bất cứ một chính phủ
địa phương nào có thể thực thi chiến lược về chiến tranh lạnh của
Hoa Kỳ, không cần phải là một chính quyền dân chủ. Theo ông Laird, đây là một sai
lầm cực kỳ nghiêm trọng. Đại Sứ Philip Habib là người đă soạn
thảo Hiến Pháp 1967 cho Việt Nam. Hoa Kỳ đă làm đạo diễn (choreograph) cho những
cuộc bầu cử để trao quyền hành cho “những kẻ tham nhũng, ích kỷ, và độc
tài khoác bộ áo lănh tụ quốc gia.”
Hoa Kỳ lúc đó đă đánh giá quá thấp sự cần thiết
của một chính quyền hợp pháp thật sự tại miền Nam Việt Nam. Thay vào đó,
Hoa Kỳ quan niệm rằng một chính quyền không chính thức (shadow government) và một lực
lượng quân sự cũng đủ để có thể đem lại chiến thắng. Ông
Laird đă không tin rằng một ngày nào đó chính phủ Sài G̣n có thể sụp đổ v́ thiếu
chính danh và thiếu sự toàn vẹn. Trong 2,8 triệu công dân Mỹ phục vụ tại Việt
Nam và vùng phụ cận trong thời gian chiến tranh, chỉ có dưới 10% phục vụ trong các
đơn vị bộ binh ở tiền tuyến. Mặt khác quân lực Hoa Kỳ lúc đó gồm
những binh sĩ bị động viên, khiếp sợ, không được huấn luyện và trang
bị đầy đủ để đối phó với chiến tranh du kích. Một số không
đếm được những thường dân vô tội Việt Nam đă bị giết trong
những cuộc truy lùng cộng sản trong đám dân ở nông thôn. Việc tàn sát thường
dân ở Mỹ Lai không xẩy ra dưới thời ông Laird, nhưng việc xử án trung uư William
Calley đă diễn ra khi ông c̣n đang làm việc ở Ngũ giác Đài. Ông nhận xét rằng
quần chúng Mỹ đă phản đối việc dùng Calley làm vật hi sinh trong khi các cấp chỉ
huy được tự do.
Ông Laird nhận định rằng một trong những
chiến
thuật cộng sản áp dụng tại Việt Nam là kéo dài chiến tranh để thử thách ư chí
và sự kiên nhẫn của Hoa Kỳ. Trên thực tế vào khoảng cuối thập niên 1960,
một trong những bài học về chiến tranh Việt Nam không được nhiều người
công nhận. Đó là tổn thất chiến tranh không phải là điều quan tâm chính của
quần chúng Hoa Kỳ. Binh sĩ Hoa Kỳ sẽ thi hành nhiệm vụ, và quần chúng Hoa Kỳ
sẽ chấp nhận tổn thất nhân mạng, nếu cuộc chiến có những mục
tiêu đích đáng có thể đạt được, và được chính phủ hỗ trợ
rơ ràng. Ngoài ra những nhà lănh đạo cần phải thành thực về những mục tiêu
này. Đây lại không phải là trường hợp Việt Nam như sẽ được tŕnh
bày thêm ở đoạn về chiến tranh giới hạn ở bên dưới. Một lầm
lỗi thê thảm nữa về chiến tranh Việt Nam là
những nhà lănh đạo Hoa Kỳ đă
thua trên mặt trận giao tế. Đại tướng Creighton Abrams thường xuyên than văn
với ông Laird rằng ông rất nản ḷng về cách mô tả cuộc chiến của truyền thông
Hoa Kỳ và sự khác biệt với sự thật mà ông nh́n thấy. Ông phải tham dự hàng
trăm buổi thuyết tŕnh được thu âm với hơn 500 phóng viên có mặt tại Sài G̣n.
Các kư giả gần như được hoàn toàn tự do đi lại tại Việt Nam. Chiến
tranh Việt Nam là một cuộc tranh chấp quân sự đầu tiên được trực tiếp
truyền h́nh. Nếu các cha mẹ của những binh sĩ Hoa Kỳ phục vụ trong Đệ
nhị Thế chiến nh́n thấy những h́nh ảnh của CNN về cuộc đổ bộ vào
ngày D theo như phim Saving Private Ryan được tường thuật trực tiếp trên màn ảnh
truyền h́nh, họ có thể nghĩ Âu Châu không đáng được cứu văn.
Theo ông Laird, cuộc chiến Việt Nam dù đă phải trả một
giá đắt, có thể xem như là một chiến thắng. Mặc dù đă xây dựng
được các căn cứ địa vững vàng tại chỗ, cộng sản đă thất
bại tại Phi Luật Tân, Mă Lai Á, Tân Gia Ba, Nam Dương, và Ấn Độ v́ cuộc chiến
ở Việt Nam đă thu hút nhiều tài nguyên của Liên Sô.
4. Chiến tranh giới hạn
Trong cuộc chiến Việt Nam, bộ binh Hoa Kỳ tham chiến
tại miền Nam Việt Nam, nhưng không được phép tiến ra ngoài Bắc. Không quân
chỉ được phép đánh vào Bắc Việt, Lào và Campuchia ào ào một lúc rồi lại
ngưng, khi th́ bí mật, khi lại công khai, pha trộn với những lừa dối và mưu mẹo,
thực hiện theo mức lên xuống của công luận thay v́ đ̣i hỏi quân sự. Trong
những năm đầu của chiến tranh, không có sự nhất trí giữa các ngành trong chính
phủ. Ngay cả Bộ Ngoại giao cũng có quyền phủ quyết những cuộc không
kích. Tổng thống Johnson thức khuya để bàn căi trong khi các tướng lănh không
được hỏi han đến.
Khi Tổng thống Nixon ra lệnh ném bom bí mật ở Campuchia, ông Laird
đă phản đối mạnh mẽ. Ông không phản đối việc ném bom v́ tin rằng Hoa
Kỳ nên chiến đấu ở bất cứ nơi nào cần phải chiến đấu - bất
cứ nơi nào có kẻ thù ẩn náu - hoặc là không chiến đấu, nhưng ông chống lại
thủ đoạn lừa gạt (deception) công luận. Khi bí mật này bị lộ, như ông tiên
đoán, ông bị nghi ngờ một cách sai lầm là nguyên nhân của sự tiết lộ này.
Tổng thống Nixon đă chấp thuận đề nghị của ông Kissinger ra lệnh cho Cơ
quan Điều tra Liên bang (Federal Bureau of Investigation - FBI) đặt máy nghe lén điện thoại ở
nhà của người phụ tá của ông Laird. Dân chúng Hoa Kỳ không muốn bị lừa dối,
không chấp nhận bí mật và cũng không muốn bị gạt ra ngoài cuộc tranh luận về
chiến tranh.
5. Việt Nam hoá chiến tranh
Nếu Bộ trưởng Quốc pḥng Robert McNamara thi hành chính sách tham
chiến tại Việt Nam của Tổng thống Lyndon B. Johnson, th́ ông Laird, người kế
vị ông McNamara, là người thực hiện chính sách chấm dứt sự liên hệ của Hoa
Kỳ vào cuộc chiến này của Tổng thống Nixon. Theo ông Laird, khi ra tranh cử Tổng
thống vào năm 1968, ông Nixon hứa chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam dưới tiêu
đề “Hoà b́nh trong danh dự” (Peace with Honor), nhưng chưa có một kế hoạch cụ thể
nào cả. [5] Vào năm 1968, ông Laird chỉ mới đề nghị cho vào cương lĩnh
của Đảng Cộng hoà ư kiến giảm vai tṛ của Hoa Kỳ trong chiến tranh (de-americanize
the war). Chính Bộ trưởng Quốc pḥng Laird là người đă thiết lập kế hoạch
Việt Nam hoá chiến tranh mà ông cho là thành công. Ông quan niệm trả lại chiến tranh cho người
Việt, những người quan tâm đến vấn đề này nhất, để tư họ lo
lắng theo điều kiện của chính họ. Người Việt cần tiền của
Mỹ và huấn luyện nhưng không cần thêm máu của quân nhân Mỹ nữa. Đó là những
lời khuyên đầu tiên của Bộ trưởng Quốc pḥng Laird dành cho Tổng thống
Nixon. Ông Laird gọi kế hoạch này là “Việt Nam hoá chiến tranh” (Vietnamizing the war) và Tổng
thống Nixon gọi là Việt Nam hoá việc t́m kiếm hoà b́nh (Vietnamizing the search for peace).
Khi hai ông Nixon và Laird thừa kế cuộc chiến tại Việt Nam
vào năm 1969, cuộc chiến đă kéo dài được 4 năm với 31.000 binh sĩ Hoa Kỳ
đă thiệt mạng, 540.000 quân Mỹ hiện diện tại Việt Nam và thêm 1,2 triệu quân thuôc
bộ binh, hải quân và không quân yểm trợ cuộc chiến từ các căn cứ quân sự trong
vùng, trên các chiến hạm và hàng không mẫu hạm ở Thái B́nh Dương. Chiến tranh Việt
Nam gây ra sự chia rẽ trầm trọng trong nước Mỹ và sự chỉ trích từ nhiều
nước bạn cũng như thù địch.
Ông Laird từ giă Quốc hội sau chín nhiệm kỳ để gia
nhập nội các của Tổng thống Nixon vào năm 1969. Ngày đầu tiên làm việc tại
Ngũ giác Đài, ông mở đọc hai hồ sơ tối mật để trong tủ an toàn ngay
tại pḥng làm việc. Hồ sơ thứ nhất gồm những tài liệu về một
việc đă xảy ra dưới thời ông McNamara: Làm sao Hoa Kỳ bị lôi cuốn vào chiến
Việt Nam. Không lâu, hồ sơ này được tiết lộ cho báo New York Times với cái tên
là “The Pentagon Papers” mà ông Laird gọi là “The McNamara Papers”. Khi là một dân biểu ở Quốc
hội Liên bang ông đă nghe khá nhiều về đề tài này. Do đó, ông không đọc hết
hồ sơ mật thứ nhất. Việc đă xảy ra không c̣n là một mỗi quan tâm của ông
lúc đó. Hồ sơ tối mật thứ hai mỏng hơn nhưng đặt ra nhiều
vấn đề. Đó là việc Đại tướng William Westmoreland xin tăng quân số Hoa Kỳ
tại Việt Nam từ 500.000 lên đến 700.000. Yêu cầu này không được giải
quyết trong khoảng một năm. Nó không được chấp nhận mà cũng không bị
từ chối. Hành động đầu tiên của ông Laird với tư cách là Bộ trưởng
Quốc pḥng là chính thức bác bỏ lời yêu cầu của Tướng Westmoreland. Việc này
đánh dấu sự bắt đầu rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam trong ṿng 4 năm.
Theo Bộ trưởng Laird, sự thật là chiến tranh luôn luôn
biến đổi. Do đó sứ mệnh của nó cũng phải thay đổi. Đây
là một định luật chứ không phải là một biệt lệ. [6]
Vào mùa Xuân 1969, do
sáng kiến của Bộ trưởng Laird, Hoa Kỳ thay đổi mục tiêu chiến lược
từ “gây áp lực tối đa vào quân địch” sang “hỗ trợ tối đa miền Nam
Việt Nam để tự chiến đấu.” Những người chống lại kế
hoạch này lại là chính phủ của miền Nam Việt Nam v́ đă quá quen lệ thuộc vào Hoa
Kỳ. Một số cấp chỉ huy quân sự Hoa Kỳ mang ảo tưởng về một
sự toàn thắng của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á bằng sức mạnh của Hoa Kỳ cũng
chống đối việc giảm quân số. Ngay cả nếu điều đó có thể
xảy ra, Mỹ hoá chiến tranh là một sai lầm ngay từ đầu, và sự kiên nhẫn của
quần chúng Hoa Kỳ sẽ biến mất trước khi mục tiêu đạt được.
Sứ mệnh của Hoa Kỳ về chiến tranh Việt Nam thật
sự thay đổi v́ t́nh h́nh thế giới đă thay đổi một cách quan trọng từ vài
năm trước khi kế hoạch Việt Nam hoá bắt đầu. Mục tiêu lúc đầu
của Hoa Kỳ là chặn đứng sự bành trướng của cộng sản ở vùng Đông
Nam Á. Nhờ sự thay đổi về mối quan hệ giữa Nga Sô và Trung Quốc từ anh
em thành kẻ thù và phong trào cộng sản ở Nam Dương bị dẹp tan, mối đe dọa
của đế quốc cộng sản giảm bớt. Theo ông Laird, Hoa Kỳ không muốn bỏ
rơi Việt Nam nhưng muốn trả lại quyền tự quyết cho quốc gia này. [7]
Đợt rút quân Mỹ đầu tiên được công bố
sau hội nghị Việt - Mỹ tại đảo Midway vào tháng 6.1969. Trước đó ba
tháng, Bộ trưởng Laird đă bay qua Sài g̣n để thông báo cho Tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu về quyết định này. Trong khi dư luận chống chiến tranh ngày càng lên cao,
việc rút quân Mỹ cũng không phải là một điều dễ dàng. Tổng thống Thiệu
cũng như hầu hết những cấp chỉ huy quân sự Hoa Kỳ, từ Tổng tham mưu
trưởng trở xuống, đều muốn tăng quân số Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Mỗi lần phải giảm quân số, các tướng lănh trong Bộ Tổng tham mưu đều
đề nghị những con số thê thảm. Ông Laird lại phải bơm những con số
này lên sau khi tham khảo ư kiến với Tướng Abrams. Ngay cả Tổng thống Nixon,
người đă chấp thuận rút quân và hứa hẹn chấm dứt chiến tranh, cũng
miễn cưỡng chấp thuận giảm quân số mỗi lần Bộ trưởng Laird
đệ tŕnh yêu cầu. Chỉ trong ṿng 6 tháng sau Hội nghị Midway, Hoa Kỳ đă rút 60.000
binh sĩ, bao gồm 20% của lực lượng tác chiến, ra khỏi Việt Nam. Vào giai
đoạn đó có lẽ đồng minh duy nhất của Bộ trưởng Laird là Tướng
Abrams v́ ông ta hiểu, nhưng những người khác không hiểu rằng sự kiên nhẫn của
quần chúng Hoa Kỳ đă cạn. Sau vụ Watergate, uy tín của Tổng thống Nixon bị suy
giảm trầm trọng khiến ông mất hết khả năng để vận động dư
luận quần chúng.
(Xem tiếp Phần 2)
|